Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

No17: Ông Hồ yêu nước như thế nào?

Khen ai khéo tạc bình phong,
Ngoài long, lân, phụng trong lòng gạch vôi !
(ca dao VN)


Ông Hồ Chí Minh có phải là người yêu nước không? Từ lâu câu hỏi không cần thiết này được đặt ra và cũng đã từ lâu nhiều người Việt Nam tham gia cứ tiếp tục tranh cãi, thậm chí theo thời gian số lượng tranh cãi chỉ có tăng chứ không giảm. Những ai đã thuyết phục được những ai, cho đến nay câu hỏi cứ vẫn giữ nguyên vị trí của nó. Một thiểu số khác thận trọng hơn đã tỏ rõ thái độ „miễn bàn“ hoặc không muốn đề cập đến vì cho đây là vấn đề nhạy cảm dễ gây tranh cãi mất “đoàn kết“, làm xấu đi tiến trình hòa giải dân tộc.

Riêng những người Việt Nam cùng chia sẻ với chủ thuyết CS, với đảng Cộng Sản Việt Nam, với nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, lẽ tất nhiên luôn đề cao ông Hồ như là biểu tượng của lòng yêu nước, là chân dung của đạo đức cách mạng và phủ nhận mọi lòng yêu nước, mọi giá trị đạo đức khác, nhất là đối với những đối tượng đối nghịch.

Thứ đến là trong giòng lịch sử cận đại của thế kỷ 20 vừa qua, đất nước Việt Nam chúng ta đã trải qua nhiều biến cố với biết bao sự kiện chồng chất, đan xen đôi khi cùng một lúc cần phải giải quyết, và đã được giải quyết theo hướng áp đặt tồi tệ.

Sự kiện thiếu vắng những nhà viết sử chân chính, trung thực, khoa học và khách quan ở trong nước đã là điều không làm chúng ta ngạc nhiên khi người cầm quyền là một thế lực độc tài nắm trọn quyền điều hành quốc gia hơn 30 năm nay sau giai đoạn lịch sử rối ren như đã nói. Hiện tại, không ít những người quan tâm đến lịch sử vẫn thường bộc lộ thái độ ngờ vực về những vấn đề mang sử tính cận đại của đất nước cũng là điều không khó hiểu.

Ai muốn chiếm lỉnh đỉnh cao thì phải chấp nhận mọi trận gió thổi vào mặt.

Hơn nửa phần đầu của thế kỷ vừa qua đối với dân tộc Việt Nam chúng ta, dù chấp nhận hay không chấp nhận ông Hồ vẫn cứ là con người của lịch sử, việc phê phán tốt xấu về ông cũng là chuyện bình thường. Câu hỏi không cần thiết “Ông Hồ có phải là người yêu nước không?” bắt nguồn từ 2 nguyên nhân trên.

Cần kiềm chế mọi dị ứng quá đà, mọi định kiến không mấy khách quan cũng như những miệt thị vung vít nặng tính thóa mạ để thỏa mãn cảm tính nhất thời không cần thiết khi có những tranh cãi về nhân vật lịch sử này, nhất là đối với những ai biết tôn trọng sự thật và muốn nói lên sự thật. Lại càng cần thiết cho những ai có tâm thức với quê hương đất nước cho dù ở hải ngoại hay quốc nội đang miệt mài đóng góp tâm sức trong công cuộc vận động dư luận quần chúng đấu tranh cho một tiến tình dân chủ hoá đất nước với một nền kinh tế thị trường ổn định, phát triển, công bằng, bền vững và lành mạnh.

Loại trừ, hóa giải những ngộ nhận đáng tiếc của đa số quần chúng trong nước cũng như một thiểu sổ ở hải ngoại phải là một bắt buộc. Muốn vấn đề nhạy cảm này đạt được kết quả chúng ta cần kiên trì từng bước tháo gỡ những xảo trá chằng chịt, vạch trần những bịp bợm tung hứng, những thật giả đan xen nhau về mọi mặt của đảng cầm quyền CSViệt Nam trong mưu đồ tôn vinh xưng tụng ông Hồ trước công luận trong cũng như ngoài nước.

- Bằng những lý luận, những phân tích có hệ thống, khoa học, ôn tồn giải thích vấn đề hợp lý, có dẫn chứng, đáng tin cậy và có sức thuyết phục với tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử.

- Đi sát với thực tế, tế nhị nắm bắt tâm lý sinh họat đơn giản của đại đa số quần chúng ngõ hầu tranh thủ nhân tâm, đánh đổ từng mảng tư cách của thần tượng hữu danh quá đà này mà chủ nghĩa độc tài toàn trị cố tung hô để bám vào với mục đích sống còn.

Mục đích của bài viết là mong nói lên những ngộ nhận của lịch sử, việc nói tốt hay nói không tốt về ông Hồ bởi những phần dẫn chứng mà người viết đã trích dẫn từ những nguồn khác nhau qua những bài viết nhận định về ông Hồ trước đây và hiện nay của người viết cũng không ngoài tham vọng làm giàu thêm sức thuyết phục cho việc phơi bày sự thật của nó. Có điều người viết luôn tâm niệm là tôn trọng tính khách quan và sự thật để chia sẻ cùng độc giả phải là một bắt buộc.

Thật ra yêu nước phát xuất từ tình cảm tự nhiên của con người được biểu thị qua cảm tính tích cực về nơi mình sinh ra và lớn lên. Nơi ấy có thể là một địa danh nào đó trên bản đồ, một miền xuôi, một mạn ngược, một làng quê, một thành phố hay bất cứ một không gian nào… người ta đã tha thiết gọi đó là quê hương và cũng từ đó nó được hình thành, gắn liền nhiều thế hệ với nhau trong quá khứ, trong hiện tại và cho cả tương lai.

Khái niệm đất nước hay dân tộc được nhân lên từ căn bản này mà hình thành một cộng đồng ổn định, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và cùng chia sẻ với nhau ở một tương lai chung. Xa hơn, ở một chừng mực nào đó, nó còn được biểu thị bằng những quan điểm đúng đắn, như cùng tự hào những điều đáng tự hào, những thành tựu khoa học, những thành tựu kinh tế, văn hóa và phát triển xã hội của cả cộng đồng, lẽ tất nhiên những con người liên hệ trong cộng đồng ấy cùng đều mong muốn phát triển, gìn giữ và bảo vệ.

Cũng vậy, cùng san sẻ, cùng gánh chịu cả những điều bất lợi, những thành quả không được như ý để cùng nhau khắc phục mà xóa đi những mặt tiêu cực nếu có cũng là một trách nhiệm, một thái độ tự nhiên của một cá nhân trong cộng đồng ấy.

Với giải thích trên thì hẳn ông Hồ cũng như bao người, cũng có cái tình cảm tự nhiên được biểu thị qua cảm tính tích cực về nơi ông ấy sinh ra và lớn lên như đã nói, nghĩa là ông cũng có lòng yêu nước như mọi người, điều này một cách thẳng thừng, không cần phải dài dòng phi hộ cũng không cần phải vừa viết vừa lách vừa thanh minh và người viết cũng tin chắc rằng khó có một lý luận phủ nhận nào có khả năng thuyết phục. Nhưng ông Hồ yêu nước như thế nào? Đây mới đích thực là câu hỏi mà chúng ta cần phân tích.

Với tham vọng vừa cho bản thân vừa cho đất nước, chẳng những muốn đất nước thoát khỏi đô hộ và lệ thuộc ngọai bang mà còn ôm đồm thêm chức năng của một nước tiên phong của phong trào CS quốc tế tại Đông Nam Á, có chỗ đứng tầm vóc trong cộng đồng CS quốc tế này và ông nghĩ rằng chỗ đứng ấy có được hay không hoàn toàn tùy thuộc vào chỗ đứng của ông trong hàng ngũ lãnh tụ CS quốc tế, ông tin tưởng chắc nịch là như vậy và phải được như vậy.

“Từ một thanh niên yêu nước với tên gọi Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành lãnh tụ vĩ đại trong phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam và thế giới” (Chủ Tich Hồ Chí Minh của chúng ta).

Nên chi, bằng mọi cách kể cả thủ đoạn ông đã chọn con đường rủi ro nhất cho đất nước và buộc cả một cộng đồng dân tộc phải nỗ lực, phải đạp bằng mọi trở ngại để đạt cho được mục đích. Thế là nảy sinh ra cuộc kháng chiến 9 năm, nảy sinh ra cuộc nội chiến tương tàn trên 20 năm và hàng loạt những di hại không lường trước được ở giai đoạn tiếp theo. Ông đưa đất nước thoát khỏi thế lực ngoại bang này để đi vào quỹ đạo của một thế lực ngoại bang khác tồi tệ hơn gấp bội. Thế là “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, thế là “Qủy tha ma bắt”.

Một nhà hoạt động chính trị, một người họat động văn hóa hay một người làm công tác xã hội trong một cộng đồng dân tộc, đứng trên quan điểm chân chính thì ngoài cái tình yêu nước nồng nàn họ còn biết yêu thương dân tộc, họ đặt quyền lợi cá nhân hay tập thể dưới quyền lợi của dân tộc mình. Xa hơn người yêu nước đúng đắn còn biết bắt nắm và gieo cấy những mầm giá trị mà nhân loại đã nhìn nhận vào với quê hương đất nước và lẽ dĩ nhiên biết gạt đi những chủ thuyết mị dân, hoang tưởng mà nhân loại đã từ chối nếu xét thấy nó không mang bất cứ một lợi ích thực tế nào cho cả một cộng đồng dân tộc, thậm chí còn di hại về sau.

Cũng đã từ lâu những người chủ trương đồng hóa ĐCS Việt Nam với dân tộc Việt Nam, với đất nước Việt Nam mà khẩu hiệu sau đây đã biểu lộ đầy đủ cách áp đặt nhập nhằng đó:

- Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

- Toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết tâm học tập tư tưởng cùng tấm gương đạo đức của Hồ Chủ Tịch

- Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ tập thể v.v.., để rồi bất cứ những ai phản đối hay chỉ trích đến tác nhân đã trực tiếp đem chủ thuyết CS vào Việt Nam đều là những người chống lại dân tộc, chống lại đất nước. Tác nhân ấy chính là ông Hồ. Đối với họ ông Hồ đã trở thành một biểu tượng bất khả xúc phạm.

Hãy thử đặt câu hỏi “Ông Hồ yêu nước như thế nào?” mà tìm sao cho được câu giải đáp khả dĩ có khả năng thuyết phục nhất để có thể góp được phần nào hóa giải những ngộ nhận của lịch sử.

“Không gì quý hơn độc lập tự do” hay “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đây là 2 câu nói hay nhất của ông Hồ, người viết xin nhấn mạnh 5 chữ “hay nhất của ông Hồ”. Nó hay là vì nó không vay mượn của bất cứ một ai so với những câu nói khác của ông, vì nó đứng trên lập trường của dân tộc mà nói lên khát vọng muôn đời của người dân Việt Nam chúng ta, chẳng những thế, nếu chịu khó phân tích và suy diễn, nó còn bao hàm ý nghĩa tôn trọng cả quyền độc lập của dân tộc khác. Nghĩ rằng, bất cứ một người yêu nước chân chính bình thường nào mà không khát khao đất nước mình được như vậy. Nhưng thực tâm giữa lời nói và việc làm của ông Hồ có đi đôi với nhau không? Đây mới là câu hỏi, người viết xin đưa ra điển hình:

Ngày 31/10/1946 nhân nhậm chức chủ tịch nước lần thứ 2, ông Hồ đã lên diễn đàn, cảm ơn Quốc hội rồi nghiêm trang tuyên bố “Lần này là lần thứ hai, Quốc hội lại giao cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm.

Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới rằng tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam”.

“Tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam” câu nói trên của ông đã không thể nào bảo vệ tính chính danh của nó, bởi vì ngay sau đó ông đã đưa chủ nghĩa CS vào Việt Nam không bằng cửa trước mà đã phải lẻn vào cửa sau dưới tư cách là đảng viên cao cấp của đảng CS quốc tế qua chiêu bài độc lập dân tộc.

Một điển hình khác cũng có khả năng đạp đổ tính chính danh mà đảng CS Việt Nam luôn tôn vinh “cha già của dân tộc” của họ là người của dân tộc.

Năm 1950, nhân đi ngang qua đền thờ đức Trần Hưng Đạo (1226-1300), ông Hồ đã xuất khẩu thành thơ:

Bác anh hùng tôi cũng anh hùng,
Tôi, bác cùng chung nghiệp kiếm cung.
Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc,
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng.
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Rằng tôi cách mạng đã thành công.

Cũng có sách viết “chúc tôi cách mạng sớm thành công(?).

Hai câu Bác đưa một nước qua nô lệ, Tôi dắt năm châu đến đại đồng” của bài thơ thất ngôn bát cú trên cho thấy tham vọng của ông Hồ là như thế nào, không chỉ tham vọng thôi ông còn biểu lộ cả đức tính cao ngạo, trịch thượng đối với tiền nhân mà nguyên nhân của nó là chỉ vì ông tuyệt đối tin tưởng con đường vô sản ông đã và đang chọn là duy nhất đúng.

Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo tình cảm buồn vui, một u hoài quá khứ, một nỗi niềm, một khát vọng tương lai hay một tình tự nào đó rồi vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời mà gạn lọc thành thơ, bài thơ thất ngôn bát cú trên của ông Hồ cũng nằm trong quy luật đó.

Thế thì “Tôi dắt năm châu đến đại đồng” phải là một khát vọng nóng bỏng trong ông mà ông luôn tâm tâm niệm niệm phải thực hiện cho được, điều này chứng tỏ khi chưa có quyền lực hay khi quyền lực đã có trong tay ông Hồ hoàn toàn đứng trên lập trường của giai cấp mà đặt vị trí của dân tộc ở vào hàng thứ. Điều này cũng chứng tỏ đấu tranh cho dân tộc chỉ là phương tiện, đối với ông đấu tranh cho giai cấp, cho chủ nghĩa CS mới là cứu cánh.

Từ thực tế trên, cũng vậy, trên 20 năm lăn lộn hành nghề tình báo cho quốc tế CS với những mong mang lợi ích cho đất nước hay cho quốc tế CS (1924-1944) nghĩ rằng tự trong mỗi chúng ta đã có câu trả lời.

Cũng không phủ nhận việc ông Hồ đã thực tâm tin tưởng vào những lợi ích dù là không tưởng mà chủ nghĩa cộng sản có khả năng đem đến cho đất nước là vì với vốn liếng đèn sách nửa vời, chưa nắm bắt được khái niệm thông thường của khoa học thường thức ông đã phải lăn lộn gian khổ với đời và sau đó bước vào cuộc hành trình chính trị nhiều rủi ro và hoang tưởng. Sự kiện, mù quáng tin tưởng đến không ngần ngại rằng một mẫu lúa tại Trung Quốc có thể đạt được 333 tấn mỗi năm và ông kêu gọi mọi người dân phải tin như vậy. “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học” mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực do nhà xuất bản Sự Thật xuất bản năm 1958, tr. 41 đã chứng minh được điều này.

Ông cũng mù quáng tin tưởng vào sự tốt đẹp của thế giới đại đồng, vào “bốn phương vô sản đều là anh em” để tiến hành những bước sai lầm tiếp theo cho đất nước không một do dự.

- Cải cách ruộng đất.

- Tiến hành cuộc chiến tranh đánh phá và cưỡng chiếm miền Nam.

Có một điều đáng chú ý về mặt tâm lý cũng cần phải phân tích, nếu là một người Việt Nam yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào, với gần mấy mươi năm lưu lạc xứ người, bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước… nỗi nhớ nước thương nhà luôn canh cánh bên lòng, thế mà tại sao khi về lại, vừa nhìn thấy ngọn núi đất nước, vừa nhìn thấy con suối quê hương đã không một chút ngần ngại lấy tên của ông Lê ông Mác mà đặt cho.

Cũng vậy “Ngục trung nhật ký” là một thi tập viết bằng chữ hán, là người Việt Nam yêu nước Việt Nam, yêu ngôn ngữ Việt Nam thì hà cớ làm sao ông lại làm thơ chỉ viết toàn là chữ Hán? Lại nữa, có một điều khó hiểu cần phải nói ra là trên cả trăm bài thơ trong thi tập “Ngục trung nhật ký” do ông sáng tác đã không có một bài thơ nào đề cập đến thực dân Pháp đang đô hộ đất nước Việt Nam, hay nhân dân Việt Nam đang khốn khổ sống trong sự đô hộ tàn bạo của thực dân, cũng như trên cả trăm bài thơ đó không một bài thơ nào đề cập đến quê hương đất nước Việt Nam. Trong khi đó lại có bài thơ tác giả tỏ ra uất ức vì không được cùng chung vui với nhân dân Trung Hoa nhân ngày Quốc Khánh, có một vài bài tác giả lại còn đề cao nhân dân Trung Hoa nổi dậy kháng chiến chống Nhật thì lại càng khó hiểu hơn nữa.

Cũng có một vài nghi vấn cho rằng “Ngục trung nhật ký” thực sự không do chính ông Hồ sáng tác mà là của một người khác? Nhưng đây lại là chuyện khác.

Hiện nay, ở Việt Nam đảng CS đang tiếp tục xưng tụng ông Hồ như là một nhà tư tưởng lỗi lạc, họ ra lệnh các đảng viên phải học tập trong 3 năm tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, xem đó như là kim chỉ nam cho cuộc sống và cho sự nghiệp chính trị của mình phải là một bắt buộc. Không ngừng ở đấy, họ còn sử dụng mọi phương tiện truyền thông, phương tiện giáo dục học đường ra sức truyền bá “tư tưởng và đạo đức” này trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong giới học sinh sinh viên.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuyên truyền rằng “tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” đã soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc. Định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 4 nội dung chủ yếu dưới đây mà họ cho là cần nắm vững:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hoá nhân loại.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm qua, tiếp tục soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong thời gian tới.

Đảng CS Việt Nam đã ra chỉ thị số 06-CT/TW yêu cầu toàn đảng, toàn quân và toàn dân học tập tư tưởng cùng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong vòng 3 năm liền. Bài viết “Ông Hồ yêu nước như thế nào?” này như là một đóng góp cho công cuộc đấu tranh chung cũng như lật tẩy cái “thần tượng” mà đảng CS Việt Nam đã và đang rắp tâm xây dựng.

Ông Hồ yêu nước như thế nào? Không ngần ngại người viết trả lời rằng: ông ấy là người yêu nước đầy hoang tưởng và lầm lạc.

Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đầy bất hạnh vì đã có những người làm chính trị yêu nước theo kiểu như ông Hồ.

Sông Lô

No 16: Vướng mắc còn lại về hậu duệ của ông Hồ

Trong bài “Sự thật về ông Hồ Chí Minh” (phần I và II ), người viết có một phần nhận định về ông Hồ như sau:

Ông không có ý niệm về một mái ấm gia đình tuy rằng ít nhất trong đời ông có hai người đàn bà trong nhiều người đàn bà từng ăn nằm với ông với tư cách là vợ chồng và có hai người gọi ông bằng bố, nhưng hai người đàn bà ấy đã không được phép gọi ông là chồng cũng như hai người con không được phép nhận ông là cha. Đó là bà Tăng Tuyết Minh, bà Nông Thị Xuân, ông Nông Đức Mạnh và ông Nguyễn Tất Trung. Ông xem thường tình yêu dù rằng hoạt động sinh lý của ông bình thường như bao người, ông không tôn trọng phụ nữ, ông thờ ơ với giòng tộc huyết thống, với làng xưa xóm cũ, với tình yêu dân thương nước chân thật. Đối với ông chỉ sự nghiệp “cách mạng vô sản” là trên hết dù chính ông cũng biết rằng đây là một sự nghiệp đầy máu và nước mắt của dân lành.

Ở phần này sở dĩ người viết chỉ đề cập đến ông Nông Đức Mạnh mà không đề cập đến thân mẫu của ông bởi vì không như bà Nông Thị Xuân, thân mẫu của ông lại là người tự nguyện ăn nằm với ông Hồ mà chẳng đòi hỏi một điều kiện “danh nghĩa” tối thiểu nào, dù là đã có con với ông, thậm chí bà còn đồng lõa “ngậm miệng ăn tiền” im lặng giữ bí mật chuyện chung chạ gối chăn này. Phải chăng chính nhờ vậy mà bà chẳng những đã thoát chết thậm chí còn được thăng quan tiến chức cho chính bản thân mình mà còn cho cả con mình sau này.

Trong bản kê khai lý lịch chính thức của Tổng bí Thư đảng CSViệt Nam Nông Đức Mạnh, ông đã cho biết cha mẹ ông là nông dân Tày, cha ông tên là Nông Văn Lai và mẹ ông là Hoàng Thị Nhị. Ông sinh ngày 11 tháng 9 năm 1940 ở xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, tham gia hoạt động cách mạng năm 1958, rồi vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 5 tháng 7 năm 1963.

Thế nhưng trong tạp chí “Thế Giới Mới”, cơ quan của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, số 434 xuất bản ngày 30 tháng 4 năm 2001 có đăng bài “Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong ký ức của một người thầy” nhân dịp lần đầu tiên ông Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài đăng đã viết về cảm tưởng của thầy giáo La Văn Ngâm dạy cấp 2 nói về người học trò cũ của mình là Nông Đức Mạnh. Bài có đoạn tả thầy giáo này tìm đến nhà bà Nông Thị Trưng, thân mẫu của ông Nông Đức Mạnh, trong đó có ghi rõ chú thích của tạp chí: “bà Nông Thị Trưng là thân mẫu đồng chí Nông Đức Mạnh”.

Bài đăng đã nói rõ tên mẹ đẻ của ông Nông Đức Mạnh và đã không có một phủ nhận nào từ phía ông Nông Đức Mạnh cũng như của đảng CSViệt Nam mà ông là người đứng đầu dù rằng nó đã không đúng với lý lịch họ tên của mẹ mình như ông đã kê khai. Với thực tế như vậy người ta có quyền khẳng định rằng “tin đồn” và “tự hiểu ngầm” đã đồng thuận với nhau và đã cùng nhau phơi bày sự thật. Cũng từ đây người ta có quyền tin một cách thuyết phục rằng mẹ của ông Nông Đức Mạnh tên là Nông Thị Trưng chứ không phải là Hoàng Thị Nhị như ông đã ghi trong lý lịch. Như vậy phần mẹ đẻ của ông Nông Đức Mạnh xem như đã được khai thông.

Có một điều, cũng cần đặt câu hỏi là nếu họ của thân mẫu ông Nông Đức Mạnh là họ Hoàng như ông đã kê khai thì lại trùng với họ Hoàng, thân mẫu của ông Hồ, bà Hoàng Thị Loan, đây là một trùng hợp ngẫu nhiên hay có ẩn ý gì chăng? Hơn thế, giữa hai tên Nhị và Trưng (HoàngThịNhị và NôngThịTrưng) cho một người đã như có một sự xắp xếp đầy tính toán lại không phải thêm một ẩn ý nữa hay sao?

Bước sang phần tin đồn ông Hồ Chí Minh là cha đẻ của ông Nông Đức Mạnh. Thật ra tin đồn này đã có từ lâu nhưng nó bùng nổ ngay sau khi ông Nông Đức Mạnh được đảng tiến cử giữ chức Chủ tịch Quốc hội khóa IX năm 1992. Thế nhưng trên giấy trắng mực đen tên của cha ông vẫn là Nông Văn Lai. Mâu thuẫn này cũng cần được tháo gỡ.

Tại cuộc họp báo bế mạc đại hội Đảng vào tháng 4 năm 2001 sau khi ông Nông Đức Mạnh nhậm chức Tổng Bí thư đảng CSViệt Nam, phóng viên của tờ San Jose Mercury News đã phỏng vấn ông về tin đồn ông là con của ông Hồ Chí Minh, câu hỏi này đã không được ông trả lời dứt khoát là “có đúng vậy” hay “không đúng vậy” mà chỉ úp mở nói rằng: “Ở Việt Nam ai cũng là con là cháu của Bác Hồ”.

Với câu trả lời kiểu này, các nhà tâm lý học cũng cần phân tích xem như thế nào.

Cũng trong một cuộc phỏng vấn dành cho đại diện báo chí nước ngoài thường trú tại Việt Nam năm 2002, phóng viên tờ tuần báo Time Asia cũng đã đưa ra câu hỏi tương tự và một lần nữa chẳng những đã được ông trả lời úp mở mà còn bị hỏi lại là “không hiểu được tại sao tin đồn vẫn tồn tại?! Phải chăng lối trả lời úp mở này cũng là mẹo chính trị “người khôn ăn nói nửa chừng….” nhằm củng cố địa vị của mình đối với hầu hết đảng viên qua chiêu bài huyết thống? Nghĩa là ở mặt nổi ông Nông Đức Mạnh không được phép nói lên sự thực nhưng ở mặt chìm ông vẫn muốn mọi người biết được sự thực này.

Nhằm sáng tỏ được vấn đề, việc trước tiên là cần tìm hiểu bà NôngThị Trưng là ai? Mối liên hệ giữa bà với ông Hồ là như thế nào? Để rồi từ đây có được những giải thích hợp tình hợp lý mà truy ra sự thật.

Bà Nông Thị Trưng Tên thật là Nông Thị Bày, cũng có tài liệu ghi là Nông Thị Ngát, sinh ngày 6 tháng 12 năm 1920 tại tại Phù Ngọc, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Bà mất ngày 26 tháng 1 năm 2003 cũng tại tỉnh Cao Bằng. Chồng bà là ông Nông Văn Lai một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động với bà vào những năm 1930, đã mất năm 1986. Bà có bốn người con trai và một người con gái. Theo tài liệu cung cấp từ đảng CSViệt Nam và cũng theo tài liệu này bà là một trong những cán bộ được liên lạc trực tiếp với ông Hồ năm 1941 và là người được ông Hồ giới thiệu vào Đảng tháng 8 năm 1943, nghĩa là bà tham gia cách mạng lúc bà 23 tuổi, hoạt động trong Tổ chức Thanh niên làm nhiệm vụ giao thông liên lạc bí mật cho đảng CSViệt Nam. Chức vụ cuối cùng của bà là Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Theo hồi ký của thiếu tướng Lê Quảng Ba người đã đựợc dân dã truyền miệng rằng ông tướng này trước kia theo thổ phỉ sau giác ngộ cách mạng theo Việt Minh đã lập được nhiều công trận.

Hoan hô anh Lê Quảng Ba
Trước là thổ phỉ sau ra hàng mình

Hồi ký của ông có đoạn viết:
Trước có Nông Thị Trưng là đội viên du kích trẻ tuổi nhất trong đội du kích đầu tiên của tỉnh Cao Bằng, do Lê Thiết Hùng chỉ huy.

Trong vòng tám tháng vào năm 1941-1942, bà đã làm giao liên cho “Già Thu”, bí danh của Hồ Chí Minh lúc đó. Tên Trưng của bà do “Già Thu” đặt, có ý muốn bà noi gương Trưng Trắc, Trưng Nhị. Bà đã được Già Thu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1941.

Trên tờ báo xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề “Cô học trò nhỏ của Bác Hồ” được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính Nông Thị Trưng có đoạn:

“Tháng 7 năm 1941, được tin (chính quyền) châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu uỷ đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.

Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp “ông Ké”. Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay “Cháu chào cụ ạ”. Ông cụ nhìn lên, hai mắt rất sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện”. Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: “Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng.
Nông Thị Trưng đã học tập lý luận cách mạng cùng “Già Thu” trong khoảng 8 tháng.

“Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như “Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi…”. Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Những lời kể trên có một điểm cần chú ý: Nông Thị Trưng đã học tập lý luận cách mạng cùng “Già Thu” trong khoảng 8 tháng. “Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập”.

Tuổi ông Hồ lúc bấy giờ cũng chỉ tròn trèm 49 hay 51 (theo lý lịch chính thức, ông Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 hay trong đơn xin học trường hành chính thuộc địa, năm 1911, ông tự ghi là sinh năm 1892). Xin thử đặt câu hỏi là, với một người đàn ông đang tuổi trung niên ở trong vùng sâu của núi rừng, thiếu thốn mọi quan hệ tình cảm nam nữ thế mà có một cô gái thanh xuân hàng ngày tự nguyện đến gặp mình để học tập bằng cả tấm lòng ngưỡng mộ thì khả năng quan hệ tình cảm giữa hai người có thể xảy ra không? Đứng trên cái nhìn tự nhiên của một cuộc sống đời thường.

Vào năm 2003 việc báo Nhân Dân đăng tin buồn khi bà qua đời, với một nữ đảng viên chỉ giữ chức vụ thuộc cấp tỉnh, không phải là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thấy vị trí đặc biệt của bà là như thế nào. Sau đây là nguyên văn bài báo:

Thông báo bà Nông Thị Trưng qua đời trên báo Nhân Dân.

Bà Nông Thị Trưng, nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, người đảng viên do Bác Hồ, Chủ tịch Đảng trực tiếp giới thiệu vào Đảng năm 1941 tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), đã từ trần hồi 8 giờ 40 ngày 26-1-2003 tại thị xã Cao Bằng do bệnh hiểm nghèo, thọ 83 tuổi. Bà được nhận Huân chương Kháng chiến hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất, Bằng có công với nước, Huân chương Độc lập hạng 3, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Sự ra đi của bà để lại lòng tiếc thương vô hạn của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng.

Bà Nông Thị Trưng (tức Nông Thị Bày), dân tộc Tày, sinh ngày 6-12-1920 tại Phù Ngọc, Hà Quảng, Cao Bằng. Tháng 8-1943, bà tham gia cách mạng, hoạt động trong Tổ chức Thanh niên làm nhiệm vụ giao thông liên lạc bí mật của Đảng. Năm 1941, bà là một trong những cán bộ được liên lạc trực tiếp với Bác Hồ và là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu vào Đảng năm 1941, khi đó bà còn là một thanh niên mới lớn, chưa biết chữ cần phải học. Bác Hồ đã gửi vở cho bà học chữ kèm theo bốn câu thơ mà trước đây đã là một trong những bài tập đọc lớp 1 phổ thông:

Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu gắng công mà học tập
Mai sau xây dựng nước non nhà.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, bà Nông Thị Trưng đã suốt đời học tập, phấn đấu rèn luyện trở thành một cán bộ mẫu mực.

Riêng về phần ông Nông Đức Mạnh nếu chỉ là con trong một gia đình dân tộc Tày bình thường như ông đã khai trong lý lịch thì làm thế nào mà ông tự phấn đấu để trèo lên đến chức Tổng bí thư đảng CSViệt Nam, một chức vụ quan trọng nhất nước trong chế độ độc tài đảng trị này? Trong khi tài sức của ông chỉ ở dạng bình thường? Điểm qua các chế độ độc tài trên thế giới mà nhất là chế độ độc tài CS đã cho chúng ta có một cái nhìn “bão hòa” rằng chuyện cha truyền con nối theo kiểu phong kiến đã không lạ lẫm gì. Nhìn lại các nước Á Đông sự truyền ngôi cho nhau đã là một thực tế: Kim Nhật Thành – Kim Chính Nhật (con); Lý Quang Diệu – Lý Hiển Long (con); Tưởng Giới Thạch – Tưởng Kinh Quốc (con); Mao Trạch Đông – Hoa Quốc Phong (con nuôi); Indira Gandi – Rajiv Gandi (con) và hiện nay tại Cu Ba Fidel Castro – Raul Castro (em) thì việc ông Hồ Chí Minh và Nông Đức Mạnh của đảng cầm quyền độc tài toàn trị Việt Nam cũng không là một ngoại lệ tuy có phần tinh vi hơn nhưng vẫn phản ảnh đầy đủ tính nối tiếp chân truyền “độc đáo” này.

Việc ông Nông Đức Mạnh là con của ông Hồ chí Minh chỉ còn một vướng mắc cuối cùng cũng cần được tháo gỡ. Theo như trong lý lịch mà ông Nông Đức Mạnh đã kê khai, ông sinh vào tháng 9 năm 1940 còn bà Nông Thị Trưng thì gặp được ông Hồ cho dù sớm nhất cũng phải là 1 năm sau ngày sinh này của ông, như vậy có nghĩa là ngày ông ra đời như tin đồn so với khai sinh có chênh lệch cách biệt gần 2 năm. Sự kiện này lý giải như thế nào đây? Tuy nhiên ở bản khai lý lịch họ tên cha mẹ mình của ông, ông đã không khai đúng với sự thực, nghĩ rằng chính cái không thực này tự nó đã giải quyết được vướng mắc trên.

Falsehoods not only disagree with truths, but usually quarrel among them selves (Daniel Webster), xin tạm dịch: Sự dối trá không những chỉ mâu thuẫn với sự thật mà thường tự nó mâu thuẫn lẫn nhau.

Bước qua tin đồn Nguyễn Tất Trung là con của ông Hồ và bà Nông Thị Xuân thì cách đây gần 2 năm rưỡi trong bài viết “Nguyễn Tất Trung – Bi kịch của thời đại” do Nguyễn Thái Hoàng (Trần Khải Thanh Thủy) phổ biến, đã nói thêm những chi tiết về nhân vật Nguyễn Tất Trung đăng trên diễn đàn ĐCV 2/10/2005 có đề cập đến chuyện này.

Ông Nguyễn Minh Cần nguyên phó bí thư thành ủy thành phố Hà Nội hiện đang định cư tại Moscow cũng là nhân chứng sống cũng đã có những tiết lộ về sự thật của cuộc thảm sát này.

Gần đây ông Bùi Tín có phổ biến trong bài viết của mình dưới nhan đề là “Không thể bất công kéo dài đến vậy“

Ông đã cho biết: “…trong các triều đình cộng sản, thật với giả, giả với thật cứ lộn nhèo với nhau, nhiều chuyện khó tin nhất có khi lại là thật, có chuyện ngỡ là của thiệt lại là của giả…”

Người viết xin trích một phần trong bài viết:

Một trong những nạn nhân bi thảm kéo dài nhất của kiểu lừa dối trên đây là anh Nguyễn Tất Trung, con của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân, một cô gái Tày quê ở làng Nà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Cô được Trần Đăng Ninh, chủ nhiệm hậu cần quân đội chọn rồi đưa về Hà Nội nhằm “phục vụ” ông Hồ. Cô được bộ công an của Trần Quốc Hoàn quản lý, giấu tại ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông thợ nhuộm, để hàng tuần đưa vào phục vụ ông Hồ một hai đêm. Mối quan hệ ấy đưa đến kết quả là cô Xuân cho ra đời vào cuối năm 1956 một cháu bé được ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung theo họ cũ của mình (Nguyễn Tất Thành).

Trần Quốc Hoàn nổi tiếng dâm loạn, đã nhiều lần cưỡng hiếp cô Xuân, bị cô chống lại quyết liệt, có cô Vàng là em họ ở cùng phòng với cô Xuân biết rõ. Nhiều lần con quỷ râu xanh này trói cô Xuân vào giường để cưỡng hiếp, hắn còn đe dọa hai cô không được hé môi nói với ai, nhất là không được bẩm báo ông Hồ. Hoàn còn giương súng ngắn đe nẹt hai cô rằng: “chúng mày liệu hồn, đến ông Hồ cũng nằm trong tay tao đây, hiểu chưa?”. Thế rồi sau một cuộc cưỡng hiếp cực kỳ thô bạo, tên Hoàn sợ rằng cô Xuân sẽ báo với ông Hồ, Hoàn liền dựng lên một tai nạn xe ô tô trên đường đê gần làng Chèm vào tờ mờ sáng để thủ tiêu cô. Ông Nguyễn Minh Cần lúc ấy là phó chủ tịch uỷ ban nhân dân Hà Nội đã biết rõ vụ án mạng này, với những biên bản khám mổ tử thi của bệnh viện Việt – Đức. Sau đó cô Vàng bị đuổi về Cao Bằng và “chết đuối” trong một nghi án trên sông Bằng Giang; chồng chưa cưới của cô Vàng khẳng định hung thủ là tay chân của Trần Quốc Hoàn, kẻ sát nhân muốn bịt hết kẽ hở về tội ác của mình.

Ông còn viết tiếp

Đã 51 năm nay, hơn nửa thế kỷ, anh Trung sống lay lắt về mặt pháp lý, không có giấy khai sinh thật, không được nhận cha đẻ của mình, không được nhận mẹ đẻ của mình, chưa được một lần thăm mộ và thắp hương trên mộ mẹ; anh không được về quê hương bản quán quê nội cũng như quê ngoại để nhận bà con họ hàng, không được biết, và dù biết cũng không được nhận ai là ông bà, chú bác, anh chị em, con cháu ruột thịt của mình.

Cũng như bài viết mới đây nhất của Xuân [Vĩnh] Phúc đăng trên ĐCV ngày 22 tháng 02 năm 2008 với tựa đề “Chánh phạm giết Nguyễn Thị Xuân là ai?” đã khẳng định một cách thuyết phục rằng ai “trồng khoai đất” này ngoài ông Hồ.

Im lặng khi người cùng chăn gối với mình bị thủ tiêu hoặc đồng lõa với thủ phạm để rồi bỏ rơi con của mình lăn lóc sống trong một xã hội mà quyền lực còn nằm ở trong tay mình mà không chút chao lòng thì quả là sợ thật. Thử hỏi với một người như vậy có phải là người tử tế không? chứ nói chi đến những mẫu mực xa xôi khác.

Nhân đây người viết xin kể một câu chuyện có thật để lấy đó làm so sánh mà đánh giá thêm về tư cách đạo đức của ông Hồ.

Câu chuyện khởi đi từ nước Cộng Hòa Trung Phi giàu có về nguồn tài nguyên kim cương vào đầu thập niên 70.

Trước đó gần 30 năm, Jean-Bédel Bokassa nguyên là một hạ sĩ quan trong quân đội viễn chinh Pháp, ông phục vụ trong quân lực nước này tổng cộng là 22 năm (1939-1961). Năm 1964 rời nước Pháp trở về quê hương của ông là Trung Phi tổ chức và và nắm giữ chức tư lệnh quân lực nước này. Năm 1966 ông đã cầm đầu quân đội làm cuộc đảo chánh cướp chính quyền và lên làm vua.

Những năm phục vụ ở Việt Nam, trong mối quan hệ nhân tình ông đã gửi lại Sài Gòn một giọt máu rơi. Không đành lòng để con mình sống lăn lóc trong hoàn cảnh mồ côi cha ở Việt Nam, ông cố lòng tìm lại và đưa ra đề nghị sẽ hậu tạ nếu ai tìm được cô con gái này của ông.

Qua nhân viên ngoại giao sứ quán của một nước (?) ở Sài Gòn lúc bấy giờ đã cho biết là đã tìm được con gái của ông và đưa sang cho ông. Lẽ dĩ nhiên “sứ giả” được đón tiếp nồng nhiệt và được trả công hậu hĩnh. Người con gái da đen xấu số đang sống lam lũ ở một xóm lao động của thành phố Sài Gòn, bỗng nhiên trở thành “ái nữ” của một ông vua. Báo chí Việt Nam lúc bấy giờ mệnh danh cô là Công chúa Lọ Lem thời đại.

Chẳng bao lâu sau, chủ nhiệm nhật báo Trắng Đen, một nhật báo có số lượng độc giả hùng hậu lúc bấy giờ đã phổ biến một tin trên đầu trang làm cho số báo ngày ấy bán chạy như tôm tươi và hết sạch sành sanh “Tìm được cô con gái thật của vua Bokassa” chẳng những thế mà còn chụp cả ảnh cô gái da đen đang vác xi măng dưới bến tàu cùng những bằng chứng xác thực cô tên là Martine Bokassa con của cựu trung sĩ Jean-Bédel Bokassa năm nào, đây mới chính là người con gái mà vua Bokassa muốn tìm.

Ông Việt Định Phương, chủ nhiệm tờ báo Trắng Đen, cầm đầu phái đoàn nhận lãnh “sứ mạng” đưa cô gái ấy sang Trung Phi. Cùng đi với ông Việt Định Phương còn có bà mẹ của cô gái.

Vua Bokassa gặp lại người tình cũ và thừa nhận cô Martine Bokassa đúng là con của mình. Tuy thế, ông vẫn cho cô gái nhận lầm trước đó làm con nuôi.

Qua câu chuyện thật đầy kịch tính này, ở một chừng mực nào đó nhất là phương diện nhân bản, người ta không thể nào xúc phạm được tư cách đạo đức của nhà lãnh đạo độc tài Trung Phi này, sự thành thật đã chứng minh được điều này. Herbert có nói: Hãy chỉ cho tôi một tên nói láo, tôi sẽ chỉ cho bạn một tên ăn trộm (Show me a lier, and I will show thee a thief).

Xem ra tư cách đạo đức của ông Hồ đã không thể nào với tới vai tư cách đạo đức của ông Bokassa, một hạ sĩ quan người da đen lính Lê Dương, một loại lính mà đảng CS Việt Nam thường dùng từ ngữ xếch mé và miệt thị “lính đánh thuê Lê Dương”. Ngẫm chuyện của ông Bokassa nghĩ đến chuyện ông Hồ mà ngán ngẩm. Ấy vậy mà trong nước đảng CSViệt Nam vẫn mãi tiếp tục trò lừa mị kêu gọi toàn đảng, toàn quân và toàn dân tiếp tục học tập tư tưởng và đạo đức của ông Hồ.


Sông Lô

DCVOnline – Ngày: 28-02-2008
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4722

Ý kiến Bạn đọc
(DCVOnline không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ bạn đọc)

(Chúng tôi chọn một số ý kiến c

No15: Đệ Tam Quốc Tế, HCM và đảng CS Đông Dương

Nhìn lại lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), từ khi được thành lập cho đến nay, ta có thể luôn luôn tìm thấy được một điều căn bản, thể hiện bản chất cố định của Đảng: Đặt mọi ưu tiên vào sự tìm kiếm một “điểm tựa”, một “sự lệ thuộc” vào các thế lực bên ngoài để xây dựng một guồng máy hữu hiệu trong một mục tiêu củng cố địa vị của một tập đoàn, áp đặt độc quyền thống trị tuyệt đối của tập đoàn này lên trên mọi thành phần khác trong dân tộc Việt Nam, đặt tham vọng của “tập đoàn” và của “điểm tựa” của mình lên trên lợi ích của dân tộc. Để đạt được mục tiêu này, ĐCSVN đã nhiều lần bắt buộc phải thay đổi “đường lối” của mình cho phù hợp với các đòi hỏi của các điểm tựa bên ngoài.

Qua một vài trích dẫn từ tài liệu chính thức của ĐCSVN (1) và một vài sự kiện lịch sử mà ngày nay hầu như các cơ quan chính thức của Đảng cũng không còn có thể phủ nhận, bài viết này muốn nêu rõ các khía cạnh khác nhau của vấn đề này, phân tích quan hệ giữa ĐCSVN và Đệ tam Quốc tế (ĐTQT), thành lập năm 1919 ở Moscou và giải tán năm 1943, trước khi ĐCSVN trở thành một Đảng cầm quyền ở Việt Nam vào năm 1945. Muốn nêu rõ các quan hệ này chúng ta cũng không thể không đề cập đến vai trò của Hồ Chí Minh (HCM), người đã chấp nhận không điều kiện khung khổ của ĐTQT để đem đến cho ĐCSVN quyền lực tuyệt đối hiện nay.

Trở thành một đảng cầm quyền từ năm 1945 cho đến nay, mặc dầu sau đó phải đánh lừa dư luận tuyên bố giải tán, ĐCSVN lại chịu thêm ảnh hưởng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cùng một lúc với ảnh hưởng của Phòng thông tin ĐTQT (tái sinh năm 1947 của ĐTQT và giải tán năm 1956). Các phân tích trong thời kỳ này về ảnh hưởng của cộng sản quốc tế đối với ĐCSVN, mà chủ yếu là các quan hệ (quan hệ “lệ thuộc thân hữu” cũng như các quan hệ “tranh chấp thù nghịch tương tàn”) giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc, sẽ được đề cập trong một dịp khác.

1. HCM, vai trò phức tạp của một viên chức của ĐTQT.

HCM là một nhân vật phức tạp hay, nói cho đúng hơn, là một kịch sĩ nhà nghề đại tài, nhiều thủ đoạn, tinh khôn và biết nhẫn nhục để chờ đợi thời cơ… Đó là một nhân vật, trong suốt quá trình hoạt động của mình, đã thay đổi lập trường một cách đơn giản, đã tinh vi đóng cùng một lúc những vai trò tương phản, đối nghịch lẫn nhau, tinh xảo cướp công lao và việc làm của người khác để tô điểm cá nhân mình,… đã thay đổi lập trường chính trị từ thái cực này qua thái cực khác cho đến khi nắm được quyền lực,… khiến cho ai cũng đặt ra những nghi vấn về thực chất của nhân vật này.

* Trong Đảng Cộng Sản Pháp, các đồng chí của HCM thường nói rằng đó là một nhân vật “kín đáo, dễ thương, nhút nhát,…”, thường hay “lẫn trốn, không tham gia trực tiếp vào các tranh luận đối chọi gay gắt” và… nhờ các đức tính này đã chinh phục được lòng tin cậy của các người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Pháp để dọn đường cho sự thăng quan tiến chức của mình sau này trong ĐTQT. Trong tư cách là nhân viên của ĐTQT, người ta còn tìm thấy ở HCM những đức tính khác của một nhân vật “rất ít có khuynh hướng về lý thuyết”, một nhân vật “thực tiển”, trong mọi hoàn cảnh tìm cách “tự thích ứng với mọi chỉ thị từ Moscou hay chỉ sửa đổi hình thức bên ngoài các chỉ thị này cho hợp với sở thích của mình chứ không bao giờ dám đi vào các tranh luận trực diện gay gắt”, tuân theo không điều kiện nguyên tắc “trung ương tập quyền trên bình diện cách mạng quốc tế vô sản”.

* Trong suốt thời gian lâu dài của hai thập niên 1920 và 1930, chắc chắn HCM đã chứng kiến các cảnh thanh trừng và tàn sát liên tiếp trong hàng ngũ ĐTQT trên lãnh thổ Liên Xô nhưng cũng đã chấp nhận các tội ác của Staline để củng cố địa vị cá nhân đã đạt được của mình trong phong trào cộng sản quốc tế cũng như vị trí lãnh đạo tối cao của mình trong tổ chức cộng sản Việt Nam. Có lẽ nhờ vào thái độ “khôn ngoan” này mà HCM đã là một trong những nhà lãnh đạo hiếm có của các phong trào cách mạng vô sản ở các nước trong vùng Đông Nam Á đã tránh được các nanh vuốt của Staline và còn sống sót được cho đến sau thế chiến thứ II.

Vài sự kiện lịch sử.

* Được trình bày trong mọi tài liệu chính thức của Đảng như là một nhân vật “xuất chúng, có một nhãn quan vượt xa các kiến thức của những nhà ái quốc bình thường đương thời,… xuất dương tìm đường cứu quốc,…”, ngày nay người ta đã chứng minh đó là một con người tầm thường, ngay từ những ngày đầu tiên đến hải cảng Marseille năm 1911, đã viết thư (ngày 15/9/1911, ký tên Nguyễn tất Thành) cho Tổng Thống và Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, cầu khẩn xin được vào học “Trường Thuộc Địa”, bày tỏ “lòng ham muốn trở thành hữu ích đối với nước Pháp trong các quan hệ đối với người đồng hương của mình,…” để tìm kiếm cho mình một chức phận trong hệ thống thuộc địa Pháp.

Một năm sau đó, từ New York, ngày 15/12/1912, với tên mới là Paul Tất Thành và tự giới thiệu mình như là “…một người dân trọn đạo làm con (filial peuple), một kẻ tùy thuộc biết ơn…”, HCM lại viết thư cho Khâm sứ Trung Kỳ: “…xin Ngài ban cho cha tôi một công việc, như là Thừa biện ở các Bộ hay Huấn đạo, Giáo thụ để cho Cha tôi sinh sống…”.

* Không được thỏa mãn trong các dự định trên, người ta không tìm thấy một dấu vết nào về các hoạt động yêu nước của Nguyễn tất Thành trong các năm sau đó, cho đến sau thế chiến thứ I, lúc xuất hiện những bài báo dưới bút hiệu “Nguyễn Ái Quốc”(!), bút hiệu đấu tranh của “Nhóm những người ái quốc An Nam” (Pour le groupe des Patriotiques Annamites: Nguyễn Ái Quốc). Để lấp khoảng thời gian trống nói trên, dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, HCM đã tinh xảo tạo ra các bức thơ mà Nguyễn tất Thành đã gởi từ Luân Đôn cho Phan Chu Trinh vào các năm 1913, 1914… chứng tỏ rằng mình đã có một quá trình hoạt động chung với các nhà cách mạng Việt Nam đương thời và cho rằng mình đã thông hiểu được cục diện thế giới hơn mọi người khác, và đã tiên đoán được tiến trình tất yếu của thế chiến thứ I.

* Tiếp đó là việc xuất hiện của một số bài báo tranh đấu chống chế độ thuộc địa và cũng nhờ đó mà dư luận mới thật sự nhận biết các hoạt động “yêu nước” của một tập thể chính trị,… trong đó có HCM. Sau này, khi đã thành công dành được chính quyền, HCM đã không ngần ngại chiếm đoạt bút hiệu chung “Nguyễn Ái Quốc” của cả tập thể đó… cho riêng cá nhân của mình, đồng thời phủ nhận và bôi bác công trình của những người khác mà ngày nay ai ai cũng đều biết đó là “Nhóm những người Ái Quốc An Nam”, đã hoạt động ở Pháp, bao gồm các nhân vật như Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và… Nguyễn Tất Thành là người gia nhập sau cùng vào Nhóm. Trong các văn kiện quan trọng bị chiếm đoạt phải kể đến bản “Các yêu cầu của Dân An Nam” gởi đến Hội nghị Versailles (1918). Ngay cả các bài viết về “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất hiện trong khoảng thời gian 1921-1925, khi đã trở thành đảng viên của đảng cộng sản Pháp, HCM cũng không phải là tác giả duy nhất.

* Sự thành công của Cách mạng Vô sản Nga chắc chắn là một biến cố kinh hoàng làm thay đổi lịch sử nhân loại và có nhiều ý nghĩa. Quan trọng hơn cả là sự nẩy sinh ra một thế lực (hay một đế quốc) mới, có qui mô rộng lớn, hùng mạnh và đủ sức đối đầu với các đế quốc tư bản Tây phương đương thời.

Đối với các dân tộc nhược tiểu trong các thuộc địa,… thế lực này rất có thể là một đồng minh cơ bản… để chống lại một kẻ thù chung là chế độ thực dân. Với chiêu bài giải phóng người lao động, bao gồm nguời vô sản và các dân tộc bị trị trong các thuộc địa,… các khẩu hiệu (hịệu) của Cách mạng Vô sản, đang hăng say trong chiến thắng trên lãnh thổ rộng lớn của cựu Nga Hoàng,… chắc chắn cũng đã có một sức hấp dẫn kỳ diệu trong hàng ngũ những người yêu nước lưu vong và rất có thể đã đem lại cho họ một lý tưởng cao đẹp… Sau nữa, đối với những người đang chờ thời cơ để tiến thân và chưa tìm được một “vị trí yên ổn” cho cá nhân mình dưới chế độ thuộc địa, mặc dầu mọi nhịn nhục,… đó cũng là một cơ hội hiếm có để tìm được một “điểm tựa” hữu hiệu, một “nơi trú ẩn” vững chắc,… để thực hiện tham vọng cá nhân của mình, miễn là phải tìm cách chứng minh được sự trung thành tuyệt đối của mình phục vụ đế quốc mới này. Tất cả các giả thuyết này đều có thể đúng hay sai tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân…

* Là thành viên Đảng Xã Hội Pháp và tham gia vào các tranh luận trong Đảng trên vấn đề gia nhập vào Đệ Nhị Quốc Tế hay vào ĐTQT, HCM theo ĐTQT, gia nhập vào Đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 và trở thành thành viên thường trực của Ủy ban nghiên cứu các vấn đề thuộc địa. Từ đó HCM trở thành, vĩnh viễn và vô điều kiện, một người cộng sản “trung thành” của ĐTQT. Rất có thể HCM đã trở thành một người yêu nước sau một thời gian ở ngoại quốc, khi được tiếp cận với môi trường hoạt động chính trị đương thời. Cũng rất có thể HCM đã theo tiếng nói của lương tâm mình, bừng tỉnh khi đọc được văn bản “Các phác họa đầu tiên trên các Luận đề về các Dân tộc và về Thuộc địa” của Lénine (1920) như đã được giải thích trong các tài liệu chính thức của Đảng, tin tưởng tìm thấy trong “vô địch” Quốc tế Cộng sản một chỗ dựa tưởng chừng “tuyệt đối” để đạt được sự lựa chọn chính trị chính đáng này của mình. Điều cốt yếu ở đây là tìm hiểu các hậu quả chính yếu của sự lựa chọn này trong quá trình tồn tại sau đó của ĐCSVN. Bình luận biến cố này, tài liệu chính thức của Đảng (1), trang 16-17, giải thích:

“Kết luận cuối cùng mà Nguyễn Ái Quốc đã rút ra từ các công cuộc tìm tòi của mình và các tranh luận nói trên là, muốn cứu nguy đất nước và giải phóng dân tộc thì không còn con đường nào khác hơn là con đường Cách mạng Vô sản. Chỉ có Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Vô sản mới có thể giải phóng các dân tộc bị trị và tầng lớp lao động trên thế giới… Giai đoạn này đánh dấu một khúc quanh lịch sử trong cuộc đấu tranh cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tiến hóa từ một nhà ái quốc đến một người cộng sản chân chính, khúc quanh theo đó Nguyễn Ái Quốc đã tự đặt mình hoàn toàn vào con đường của Cách mạng tháng 10/1917, của Chủ nghĩa Marx-Lénine và của Quốc tế Cộng sản”.

2. ĐTQT và sự thành lập của ĐCSVN.

Đệ nhất Quốc tế là phong trào cách mạng khuynh hướng xã hội được thành lập ở Londres năm 1864 và giải tán năm 1876 vì sự đối nghịch giữa khuynh hướng Mác xít và khuynh hướng chủ nghĩa Vô chính phủ. Đệ nhị Quốc tế là khuynh hướng cải cách xã hội – dân chủ, thành lập năm 1889 ở Paris, được phục hưng lại vào các năm 1923 và 1951. Đệ tam Quốc tế là khuynh hướng cách mạng vô sản, thành lập năm 1919 ở Moscou và giải tán năm 1943, được tái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956, sau Đại hội XX của Đảng Cộng Sản Liên Xô. Đệ tứ Quốc tế, thành lập năm 1938, là khuynh hướng “cách mạng thường trực” mà Trotski đưa ra từ sau khi Lénine qua đời (1924) để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Staline.

Vài sự kiện lịch sử.

* Sự thăng tiến của HCM trong ĐTQT rất là mau chóng. Khi các phong trào cách mạng ở Âu châu đang ở trong một thời kỳ thoái bộ, ĐTQT cảm thấy cần phải nới rộng các hoạt động vào các chân trời mới, qua các xứ thuộc địa, đang trên đà biến hóa mau chóng, nhất là ở Á châu. Năm 1923, HCM được Đảng Cộng sản Pháp chỉ định tham dự Đại hội Quốc tế Nông dân ở Moscou, sau đó được vào Ban chấp hành Trung ương Nông dân Quốc tế, đại diện các nước thuộc địa và nới rộng các hoạt động trong các quốc gia Đông Nam Á châu. Tham dự Đại hội V của Cộng sản Quốc tế ở Moscou vào tháng 5/1924, HCM đã hoàn toàn chấp nhận sự thắng lợi của lý thuyết của Staline về “Chủ nghĩa Xã hội trong một Quốc gia”, chống lại lý thuyết “Cách mạng thường trực” của Trotski. Với đường lối của Staline, giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế…, HCM được cử vào Ủy ban Tuyên truyền Cộng sản Quốc tế và Ủy ban Đông phương của Ban thường trực Cộng sản Quốc tế.

* Với tư cách mới trong ĐTQT năm 1925 HCM bí mật đến Quảng Đông thành lập “Thanh Niên Cách Mạng Hội Việt Nam” (TNCMHVN), trực thuộc ĐTQT ở miền Viễn Đông, với mục tiêu phối hợp các hoạt động chống thực dân, kết nạp các đồng chí trong số những người Việt Nam sinh sống ở Trung Quốc. Đó là tiền thân của ĐCSVN, trước khi đi đến thành lập các đảng cộng sản trong các dân tộc ở miền Đông Á. Các hoạt động này của HCM đã gặp được cơ hội thuận tiện vì được xuất hiện giữa thời kỳ phát triển cao độ của các khuynh hướng cách mạng quốc gia Duy Tân, Cải Cách ở Việt Nam cũng như phù hợp với thời kỳ hòa hoãn và hợp tác giữa ĐTQT (được quyết định trong Đại hội V, 1924) với các phong trào Cách mạng Dân tộc đương thời ở Trung Quốc và cho phép TNCMHVN tranh thủ rộng rãi các hoạt động trong nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội.

* Khi các tranh chấp giữa phong trào Cách mạng Dân tộc và phong trào Cộng sản bùng nổ năm 1927 ở Trung Quốc thì ĐTQT, qua Đại hội VI, tháng 12/1927, lại thay đổi đường lối đối với các khuynh hướng cách mạng Dân tộc, chống lại các phong trào Xã hội – Dân chủ và đề ra khẩu hiệu “Đấu tranh Giai cấp”. Sự thay đổi đột ngột đường lối này của ĐTQT được các tổ chức cộng sản Việt Nam áp dụng tức khắc, đưa đấu tranh giai cấp lên hàng đầu trong các hoạt động, tự tôn mình lên vị trí lãnh đạo cách mạng, xem tất cả các khuynh hướng cách mạng dân tộc khác ở Việt Nam là kẻ thù ý thức hệ trước mắt của mình. Bàn về mục tiêu các hoạt động của TNCMHVN trong khoảng thời gian 1928-1929, tài liệu (1), trang 21 của ĐCSVN viết:

“Khía cạnh đặc biệt quan trọng nhất của phong trào cách mạng ở Đông Dương được thể hiện qua các phong trào đấu tranh quần chúng công nông dân, ngày càng trở nên rõ ràng là độc lập và không còn bị ảnh hưởng của các khuynh hướng quốc gia như trước… TNCMHVN đã được sinh trưởng lên đúng vào lúc các đấu tranh giữa hai khuynh hướng, khuynh hướng vô sản và khuynh hướng trưởng giả tư sản, đang lên cao tột độ ở Việt Nam… Nhiệm vụ cấp bách và tức thời lúc đó của TNCMHVN là phải chận đứng các phong trào Cải cách Tư sản và các phong trào cách mạng ngụy trang trưởng giả, soi sáng cho quần chúng thấy rõ đâu là cách mạng, đâu là cách mạng ngụy trang, đâu là cách mạng thật sự…”.

* Từ lập trường trên, TNCMHVN chia thành hai phe chống đối nhau, một bên đòi hỏi thành lập một Đảng cách mạng vô sản thực sự theo chủ nghĩa Marx-Lénine, một bên muốn dùng chiến lược mềm dẻo cho rằng sự thành lập một ĐCSVN là một điều quá sớm. Đại hội toàn quốc TNCMHVN, họp ở Hương Cảng từ ngày 1/5/1929, bác bỏ đề nghị của Chi bộ Bắc Kỳ đòi giải tán TNCMHVN để thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Nhưng, trở về địa phương, Chi bộ Bắc Kỳ công khai tuyên bố lập trường của mình và ngày 17/6/1929 tuyên bố thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Để tranh dành ảnh hưởng và tránh khỏi bị cô lập với Quốc tế Vô sản, các phần tử cộng sản quá khích khác của TNCMHVN liền vội vã thành lập các Đảng trong địa phương của mình. Tháng 10/1929, Chi bộ Nam Kỳ họp đại hội giải tán TNCMHVN và thành lập Đảng Cộng Sản An Nam. Tháng 1/1930, các phần tử trong Tân Việt Cách Mạng Đảng cũng tuyên bố thành lập Liên Minh Cộng Sản Đông Dương. Trong khoảng thời gian ngắn sáu tháng, khủng hoảng trong các tổ chức cộng sản Việt Nam đã đạt tới mức độ cao điểm, với sự khai sinh ở Việt Nam của ba tổ chức cộng sản, độc lập với nhau, cả ba đều đòi gia nhập vào Cộng sản Quốc tế.

Đứng trước viễn ảnh tranh chấp gay gắt giữa các khuynh hướng nói trên, HCM, tự nhận là Đại diện của ĐTQT, liền gởi một lệnh thơ cho ba tổ chức cộng sản Việt Nam phải thống nhất lại với nhau trong cùng một tổ chức duy nhất trực thuộc ĐTQT. Ngày 3/2/1930, với tư cách Đại diện ĐTQT, HCM vội vàng triệu tập và chủ tọa Hội Nghị Thống Nhất được tổ chức tại Hương Cảng, quyết định thành lập ĐCSVN và đặt Đảng dưới sự điều hành của ĐTQT, thay vì tùy thuộc vào Liên Đoàn Cộng Sản Nam Hải (Mặt trận thứ hai ở miền Viễn Đông được ĐTQT thành lập ở Singapour năm 1928, sau các thất bại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trước phong trào Cách mạng Dân tộc ở Trung Quốc) và đưa Đấu Tranh Giai Cấp lên vị trí hàng đầu. Đi xa hơn nữa, cho rằng các tình cảm dân tộc là trái với tinh thần quốc tế vô sản, tháng 10/1930, ĐCSVN đuợc đổi tên thành “Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD). Chương trình chính trị của Đảng nêu rõ, (1), trang 28-29:

“Cách mạng Đông Dương ra đời vào lúc Tư bản thế giới đang đi sâu vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lúc các đế quốc đang ráo riết chuẩn bị một cuộc chiến tranh thế giới mới để chia lại các thị trường cùng vào lúc các đấu tranh chống Đế quốc ở các nước tư bản và các xứ thuộc địa đang lên cao,… Cách mạng Đông Dương tự đặt mình trong khung khổ của Cách mạng thế giới… Các mâu thuẫn căn bản ở Đông Dương là các mâu thuẫn giữa tầng lớp các công nhân, nông dân và các người lao động chống lại các tầng lớp thực dân, phong kiến, địa chủ và tư sản… Từ đó Đề cương chính trị xác định Cách mạng Đông Dương là một Cách mạng dân chủ lãnh đạo bởi giai cấp vô sản, một Cách mạng điền địa để xóa bỏ các tàn dư phong kiến, chia lại ruộng đất cho nông dân, một Cách mạng chống thực dân để lật đổ chế độ thực dân Pháp dành độc lập trên toàn lãnh thổ Đông Dương,… tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa mà không qua giai đoạn phát triển tư bản…”.

Trong tài liệu HCM Toàn tập do Nhà Xuất bản Sự thật ấn hành, ta còn có thể đọc laị các chỉ thị sau đây mà HCM viết cho ĐCSĐD:

“Đệ Tam Quốc tế là một Đảng cộng sản thế giới. Các Đảng các nước như là các chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch đệ tam quốc tế thì các Đảng không được làm… Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới… Phải tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản,… phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế cộng sản”.

Vài bình luận về sự ra đời của ĐCSĐD.

Một sự kiện đáng được nêu rõ là, trước khi ĐCSĐD được thành lập, mọi khuynh hướng đấu tranh đương thời ở Việt Nam đều chia sẻ cùng nhau một mục tiêu chính yếu chống lại kẻ thù chung của dân tộc là chế độ thuộc địa, xem đó là một “đồng thuận” của dân tộc, là điểm xuất phát chung của mọi phong trào yêu nước. Nếu chưa đạt được mục tiêu đưa dân tộc thoát khỏi chế độ thuộc địa thì ít nhất ai ai cũng đều có thể nhận xét rằng chưa bao giờ có một sự chia rẽ hay một sự rạn nứt giữa các thành phần khác nhau trong dân tộc trong mục tiêu trên. Vấn đề chính yếu của các phong trào yêu nước đương thời là cùng nhau học hỏi những luồng tư tưởng mới trên thế giới, tìm kiếm các mô hình tổ chức cho xã hội tương lai, trao đổi cùng nhau các khám phá mới lạ tìm thấy ở thế giới bên ngoài, chia sẻ cùng nhau những giây phút thất bại chung,… trong tinh thần đối thoại và hợp tác, trong một mục tiêu chung giải thoát dân tộc khỏi chế độ thuộc địa…

Một điểm thứ hai đáng được ghi nhận là, ngay trong tổ chức cộng sản TNCMHVN, sự ra đời của ĐCSĐD chỉ là ý chí muốn ly khai của một “thiểu số cực đoan”. Bàn về Đại hội của TNCMHVN mà hậu quả là sự ra đời sau đó của ĐCSĐD, tài liệu chính thức (1), trang 24-25, của Đảng cũng viết:

“Đại hội toàn quốc này được tổ chức ở Hương Cảng vào ngày 1/5/1929. Đoàn Đại biểu của Chi bộ Bắc kỳ, trong đó phải kể đến Ngô Gia Tự là người cương quyết và phi thường hơn cả, đưa ra đề nghị nhằm giải tán TNCMHVN và thành lập ĐCSĐD. Đề nghị này không được chấp nhận, Đoàn Đại biểu liền rời khỏi Đại hội và trở về nước. Ngày 1/6/1929 Chi bộ Bắc kỳ ra thông cáo giải thích thái độ của mình ở Đại hội và… ngày 17/6/1929, ĐCSĐD được thành lập…”.

Một nghi vấn được đặt ra ở đây là lập truờng của HCM trong vấn đề này, HCM theo phe thiểu số hay đa số của Đại hội? và, nếu ở về phía đa số, thì phải giải thích thế nào lập trường của HCM khi ĐCSĐD được thành lập sau đó? Ta sẽ trở lai chi tiết này trong phần cuối của bài viết.

Qua các sự kiện trên đây, ngay từ đầu ta có thể ghi nhận rõ ba yếu tố căn bản chi phối quá trình các hoạt động sau này của ĐCSĐD.

* Trước tiên, nếu khởi đầu thế kỷ XX dư luận ở Việt Nam gần như đã đạt được một sự đồng thuận, đặt ưu tiên vào việc tìm kiếm các con đường đấu tranh chống lại kẻ thù chung là chế độ thuộc địa thì, với đấu tranh về ý thức hệ, sự ra đời của ĐCSĐD lại là khởi điểm của một của một cuộc nội chiến tương tàn trên đất nước và trong dân tộc Việt Nam, chỉ vì tham vọng của Đảng muốn độc quyền chiếm đoạt quyền lực. Sự lựa chọn một cách tuyệt đối ý thức hệ cộng sản, với “đấu tranh giai cấp”, với “chuyên chính vô sản” và “độc quyền về chân lý”, ĐCSĐD đã tự đặt mình đối nghịch với mọi khuynh hướng đấu tranh khác ở Việt Nam, sẵn sàng chấp nhận hòa hoãn với ngoại bang, kể cả với chế độ thuộc địa,… để củng cố vị trí của mình nhưng lại xem mọi phong trào yêu nước khác là kẻ thù tiên quyết về ý thức hệ, cần phải tiêu diệt trước.

* Yếu tố căn bản thứ hai là sự chấp nhận không điều kiện lý thuyết về “Chủ nghĩa Xã Hội trong một quốc gia” của Staline, theo đó giai cấp vô sản ở các nước tư bản cũng như ở các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, bác bỏ lợi ích của các quốc gia và các dân tộc, đặt lợi ích của Đảng Cộng Sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế. Nói một cách khác, chưa thoát khỏi ách đô hộ của chế độ thuộc địa, ĐCSVN đã tự nguyện tin vào một lý thuyết vô tưởng, tự đặt mình như là một bộ phận của một thế lực quốc tế (mà thực tế chỉ là Đảng Cộng Sản Liên Xô), chấp nhận một cách tuyệt đối phục vụ lợi ích của thế lực này, đặt lợi ích của thế lực ngoại bang này trên cả lợi ích của cả dân tộc mình. Đối với mọi dân tộc, dầu ở một thời đại nào đi nữa, đó là một nghịch lý lố bịch, một hình thức ngụy biện, không thể chấp nhận được!!

Đi xa hơn nữa trong lý thuyết phụ thuộc vào Quốc tế Cộng sản và xem ĐTQT như là một hệ thống có đẳng cấp, sau khi ĐCSĐD được thành lập, HCM lại cho ghi trong Luận Cương chính trị của Đảng sự phụ thuộc của ĐCSĐD vào các thế lực cộng sản đàn anh khác, ra đời trước ĐCSĐD: “…Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với Vô sản thế giới,… Đảng phải liên lạc mật thiết với Đảng cộng sản Pháp, Trung Quốc và Ấn Độ”, xem đó là các điểm tựa quốc tế chắc chắn và môi trường hoạt động quan trọng để củng cố quá trình phát triển của Đảng.

* Yếu tố quan trọng thứ ba được thể hiện ngay từ ngày thành lập Đảng là việc HCM, với tư cách của Quốc Tế Vô sản, ra lệnh đổi tên của Đảng thành ĐCSĐD. Điều này có mục tiêu củng cố sự kiểm soát cuả ĐTQT trên Đảng, tách rời Đảng ra khỏi ảnh hưởng của khuynh hướng cách mạng dân tộc và đồng thời cũng thể hiện tham vọng của Đảng muốn nới rộng địa bàn hoạt động của mình lên toàn lãnh thổ Đông Dương. Sau này, khi hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc nắm được chính quyền, các tham vọng này đưa tới nhiều hậu quả trầm trọng vì đó chính là đầu mối của các tranh chấp ảnh hưởng của hai bên đối với các quốc gia khác trên bán đảo Đông Dương, nhất là từ khi ĐTQT được giải tán vào năm 1956.

3. Các thay đổi về đường lối của ĐCSĐD và của ĐTQT.

Cũng như TNCMHVN, đường lối của ĐCSĐD tiếp tục phản ảnh đường lối của Moscou cho đến khi ĐTQT giải tán vào năm 1943. Trong thời kỳ này, ĐTQT quan tâm đến hai vấn đề chủ yếu. Trong nội bộ đó là sự chống đối của Trotski đối với đường lối của Staline, trong khi đó ở ngoài Liên Xô là sự ra đời của Đức Quốc Xã, ngày càng đe dọa trực tiếp cho sự sống còn của Liên Xô. Cũng trong thời kỳ này, ta có thể phân biệt đường lối của ĐCSĐD qua ba thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất kéo dài cho đến trước Đại hội VII của ĐTQT (1935) là thời kỳ ý thức hệ đấu tranh giai cấp, thời kỳ thứ hai tiếp tục từ đó cho đến năm 1939 khi thế chiến thứ hai bùng nổ là thời kỳ hòa hoãn đối với chế độ thuộc địa Pháp và hoạt động dưới chiêu bài của Mặt Trận Dân Chủ. Trong thời kỳ thứ ba, dưới chiêu bài của Mặt Trận Việt Minh và đứng về phe Đồng Minh trong chiến tranh thế giới, ĐCSĐD lợi dụng cơ hội nắm được chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945.

A.Thời kỳ thứ nhất: Cách mạng vô sản và đấu tranh giai cấp

* Các năm đầu của thập niên 1930 khởi đầu bằng hai biến cố quan trọng. Đó là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng đề xướng vào tháng 2/1930 và cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh do ĐCSĐD cầm đầu (9/1930-4/1931), cả hai tượng trưng cho hai phong trào cách mạng tiêu biểu đương thời ở Việt Nam. Tuy có một quy mô rộng lớn hơn nhưng biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh lại không có một ảnh hưởng quần chúng bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Dư luận đương thời chưa sẵn sàng chấp nhận đấu tranh giai cấp và thờ ơ với quốc tế vô sản. Trong khi đó cuộc khởi nghĩa Yên Bái lại tác động trực tiếp vào khía cạnh tâm lý là tinh thần yêu nước chống lại chế độ thuộc địa, điều quan tâm hàng đầu của cả dân tộc Việt Nam.

Sau hai biến cố đó, chế độ thuộc địa tiến hành ở Việt Nam các cuộc đàn áp dã man để tiêu diệt các phong trào cách mạng, khuynh hướng dân tộc cũng như cộng sản. Các nhà lãnh đạo các phong trào cách mạng dân tộc bị truy nã đến tận biên giới Trung Quốc, không còn đủ lực lượng để có thể xuất đầu lộ diện trong lãnh vực sinh hoạt chính trị trong suốt thời gian dài của thập niên 1930. Trong khi đó ĐCSĐD, với các tổ chức chặt chẽ, đã dần dần xây dựng lại cơ sở trong vòng bí mật kể từ năm 1932 và chính thức công khai lộ diện trong thời kỳ 1936-1938, khi Mặt Trận Bình Dân ở Pháp nắm được chính quyền, với sự tham gia của Đảng Cộng Sản Pháp.

* Tháng 3/1935 Đại hội I (toàn quốc) của ĐCSĐD được triệu tập ở Macao nhưng không có thay đổi về đường lối, xác định lại chiến lược cũ về đấu tranh giai cấp đề ra ở Đại hội VI (1927) của Đệ tam Quốc tế. Nhưng từ khi Hitler lên cầm quyền ở Đức vào năm 1933 và trước sự đe dọa ngày càng nặng của Đức Quốc Xã trên Liên Xô, Staline lại thay đổi đường lối, tìm đồng minh với các nước Tây phương, ký kết với Anh và Pháp các hiệp ước an ninh. Tháng 7/1935, Đại hội VII của ĐTQT họp ở Moscou ra chỉ thị cho các đảng cộng sản ngoại quốc không được có các hành động làm trở ngại chiến lược này. Đoạn văn sau đây, trích dẫn từ (1), trang 49, nêu rõ:

“… Đại hội VII của Cộng sản Quốc tế (7/1935) ra lịnh cho giai cấp công nhân và tầng lớp lao động trên toàn thế giới phải đặt mục tiêu tức thời và trực tiếp không phải là lật đổ chế độ tư bản để xây dựng xã hội chủ nghĩa mà là đấu tranh chống lại độc tài phát xít và ý đồ xâm lược của phe phát xít, để xây dựng dân chủ và bảo vệ hòa bình. Các Đảng cộng sản của mọi nước phải thống nhất các lực lượng lao động và thành lập một Mặt trận rộng rãi bao gồm các đảng quốc gia, dân chủ và cấp tiến cũng như các tầng lớp bình dân để thống nhất hành động chống lại kẻ thù chính yếu tức thời là chế độ phát xít”.

Hiển nhiên đường lối này trái ngược lại với đường lối của Đại hội VI (1927) mà ĐCSĐD vẫn tiếp tục khẳng định trong Đại hội I (3/1935) của ĐCSĐD. Vì vậy, liền sau Đại hội VII của ĐTQT, ĐCSĐD phải tức thời thay đổi đường lối để bám sát với đường lối mới của ĐTQT và làm tự kiểm thảo, (1), trang 45: “Cần nêu lên một khuyết điểm, Đại hội (I của ĐCSĐD) đã không nhận thức rõ ràng được các hiểm họa phát xít trên thế giới cũng như không trù liệu trước các khả năng chiến tranh chống phát xít,…”.

B. Thời kỳ thứ hai và chiêu bài Mặt Trận Dân Chủ

* Đường lối mới của ĐTQT được chính thức đem ra thực hành sau Hội nghị Ban chấp hành trung ương ĐCSĐD ở Thượng Hải (7/1936) với sự thành lập “Mặt Trận Dân Chủ Thống Nhất Đông Dương”, gọi tắt là Mặt Trận Dân Chủ, dùng các hình thức đấu tranh cho Dân chủ để che đậy thực chất của mình. ĐCSĐD thường gọi giai đoạn này là giai đoạn Cách mạng Dân chủ nhưng đây chỉ là một hình thức đánh lừa dư luận bên ngoài và là một chiến lược nhằm thỏa mãn nhu cầu giai đoạn của Staline. Về thực chất, ĐCSĐD vẫn luôn luôn không lùi bước trên mục tiêu ý thức hệ. Hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng họp ở Thượng Hải năm 1936 giải thích, (1), trang 48:

“… Nếu các nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến của Đảng nêu ra từ ngày thành lập vẫn luôn luôn còn hiệu lực thì mục tiêu tức thời và trực tiếp của giai đoạn này không phải là để lật đổ chính quyền của Đế quốc Pháp và làm cách mạng cải cách điền địa, mà lại là đấu tranh chống lại phản động thực dân, tay sai của phát xít… Đây chỉ là một vấn đề chiến lược, tạm đình hoãn trong một giai đoạn các mục tiêu của cách mạng nhưng cũng là một vấn đề tối cần để áp dụng chiến lược toàn cầu để bảo vệ thành trì cách mạng thế giới. Không có thành trì này thì cách mạng ở Đông Dương cũng không thể tồn tại được…”.

Hiển nhiên, khi xác định “mục tiêu tức thời và trực tiếp của giai đoạn này không phải là để lật đổ chính quyền của Đế quốc Pháp”, ĐCSĐD đã thể hiện một nghịch lý căn bản vì quan tâm hàng đầu của Dân tộc Việt Nam luôn luôn vẫn là tìm mọi cách để dứt bỏ chế độ thuộc địa Pháp. Trên thực tế điều này có thể được giải thích dễ dàng vì lý do kỷ luật của ĐTQT, “giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế” và nước Pháp đang được xem như là một đồng minh của Moscou và đối nghịch với Đức quốc xã. Ngoài ra, lại còn phải xét đến “lợi ích” của Đảng Cộng sản đàn anh Pháp, đang tham gia vào chính quyền đương thời ở Pháp. ĐCSĐD đã chỉ thi hành đúng chỉ thị của ĐTQT: “mục tiêu tức thời và trực tiếp không phải là lật đổ chế độ tư bản để xây dựng xã hội chủ nghĩa”, bắt buộc hòa hoãn với chế độ thuộc địa.

Cùng một lúc, HCM cũng từ Trung Quốc ra chỉ thị cho ĐCSĐD, (1), trang 50:

“Nhiệm vụ chính yếu của thời gian hiện tại là tranh đấu để đòi hỏi các quyền dân chủ, tự do. Tổ chức của Mặt Trận phải thật là hết sức rộng rãi, bao gồm tất cả mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả các thành phần trưởng giả quốc gia và cấp tiến ở Đông Dương nhưng không thể hòa hoãn được với thành phần theo Trotski. Phải thẳng tay trừng phạt với các thành phần ly khai, phải giữ chặt các liên hệ mật thiết với Đảng Cộng Sản Pháp và Măt Trận Bình Dân Pháp”.

* Nếu ĐCSĐD phải tạm thời trì hoãn đường lối Cách mạng Vô sản để thi hành chỉ thị mới của ĐTQT thì ngược lại chiến lược này đã có một tầm quan trọng hàng đầu cho sự phát triển của Đảng, mang lại cho Đảng những thành công sau này trong ý đồ chiếm giữ độc quyền ở Việt Nam. Lợi dụng cùng lúc Đảng Cộng sản Pháp tham gia vào chính quyền ở Pháp, ĐCSĐD lại tái xuất hiện khắp nơi trên các đô thị lớn dưới chiêu bài của Mặt Trận Dân chủ, dấu kín bản chất ý thức hệ của mình, thay thế các nhãn hiệu “cộng sản” đã dùng trước đây bằng nhãn hiệu “dân chủ”. Trong lúc các phong trào cách mạng quốc gia vẫn còn hoạt động trong vòng bí mật thì ĐCSĐD lại lợi dụng một cách khôn ngoan và thiết thực mọi khả năng hoạt động, vừa bí mật và chính thức hay bán chính thức để tổ chức và động viên quần chúng, tham gia trên bình diện toàn quốc vào mọi lãnh vực, từ đấu tranh công đoàn cho đến tham dự vào các bầu cử địa phương, từ các sinh hoạt văn hóa, tôn giáo,… cho đến nghệ thuật, thể thao,… Quan trọng hơn cả, ĐCSĐD tìm mọi cách thâm nhập vào nội bộ của các phong trào yêu nước, gây chia rẽ và phá hoại các phong trào này để đưa mình lên vị trí độc tôn lãnh đạo cách mạng ở Đông Dương. Đoạn văn sau đây nêu rõ thêm các hoạt động trên đây của Đảng, (1), trang 50:

“Một bộ phận cán bộ của Đảng và của Mặt Trận được phân công thâm nhập vào các hội đồng, các phong trào cải cách, duy tân và phản động để tố cáo các tội ác của đế quốc và tay sai, vạch mặt giới lãnh đạo các phong trào phản động, chinh phục quần chúng về phía mình… Về hướng tổ chức quần chúng, phải tìm mọi cách để đạt được số đông. Nhưng đối với tổ chức Đảng thì phải giữ vững chất lượng, phải thẳng tay trừng trị những phần tử theo Trotski, những phần tử khiêu khích, phản Đảng,… “.

C. Thời kỳ thứ ba và chiêu bài Mặt Trận Việt Minh

* Đầu năm 1938, chính quyền ở Pháp lại thay đổi và rơi về phía hữu, ĐCSĐD cũng kịp thời rút vào vòng hoạt động bí mật và tập trung các hoạt động ở thôn quê. Tiếp theo đó là thời kỳ Thế chiến thứ hai. Năm 1940, nước Pháp chấp nhận sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã, thỏa hiệp với Nhật Bản để cùng chiếm đóng Đông Dương và từ đó được ĐCSĐD gắn liền với khối phát xít. Đường lối chống phát xít bây giờ bao gồm cả chế độ thuộc địa của Pháp (cũng như của Nhật sau này) ở Đông Dương. Từ thời điểm này, trên bán đảo Đông Dương không còn sự hiện diện nào của các Đế quốc Tư bản đồng minh với Moscou. ĐCSĐD xem nước Pháp cùng với Đức, Ý và Nhật là phe “Phát xít”, đồng hóa với “Đế quốc”, đồng thời đồng hóa đường lối “chống Phát xít” của mình trước đây với đường lối “chống Đế quốc” mà vẫn không đi ngược lại với các chỉ thị của ĐTQT. Không như giai đoạn trước đây, nếu ĐCSĐD không nêu rõ mục tiêu chống đế quốc và chế độ thuộc địa Pháp, thì đường lối mới của ĐCSĐD có phần nào thay đổi vì nêu rõ mục tiêu chống đế quốc Pháp. Thật sự, vẫn luôn luôn dấu kín bản chất của mình, đây là giai đoạn mà ĐCSĐD tìm cách củng cố vị trí để đưa mình lên địa vị độc tôn lãnh đạo cách mạng. Tháng 11/1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Bà Điểm vạch đường lối (1), trang 57:

“Giải phóng đất nước là nhiệm vụ đầu tiên của cách mạng Đông Dương. Cách mạng chống đế quốc và cách mạng cải cách điền địa là hai trục chính của cách mạng dân chủ. Không hoàn thành được nhiệm vụ thứ hai là thất bại trong nhiệm vụ thứ nhất và ngược lại. Nguyên tắc căn bản này không thể thay đổi được nhưng phải được áp dụng một cách khôn khéo để có thể thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của cách mạng là lật đổ chủ nghĩa đế quốc. Dựa trên định hướng chiến lược mới này, Ban chấp hành trung ương Đảng ra lịnh tạm thời đình hoãn cách mạng cải cách điền địa,… Để tập trung tất cả lực lượng vào công việc lật đổ chính quyền của đế quốc và tay sai. Dự định thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn quốc chống Đế quốc ở Đông Dương. Các lực lượng chính của Mặt trận này là thợ thuyền và nông dân. Phải liên minh hay vô hiệu hóa giới tư sản, các địa chủ cở trung bình và cở nhỏ, đặt dưới sự lãnh đạo của giới vô sản…”.

Tháng 11/1940, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Bắc Ninh) nhấn mạnh:
“Hai tai họa đang đe dọa lên các dân tộc Đông Dương: Bán đảo Đông Dương chịu sự chiếm đóng của hai đế quốc phát xít Nhật và Pháp, hai kẻ thù hiện tại chính yếu của ta. Vì vậy nhiệm vụ tức thời của Đảng là lãnh đạo các dân tộc ở Đông Dương để sửa soạn cuộc khởi nghĩa vũ trang để lật đổ phát xít Nhật-Pháp và nắm chính quyền…”.

Hiện diện ở Trung Quốc từ cuối năm 1939 và ở Việt Nam vào đầu năm 1941, tháng 5/1941, HCM vẫn với tư cách Đại diện của ĐTQT triệu tập Hội nghị Trung ương ĐCSĐD ở Pac Bó (Cao Bằng) để cụ thể hóa đường lối hoạt động của Đảng cho thời gian sắp tới, xác định thực hiện công cuộc giải phóng Đông Dương trên bình diện của mỗi quốc gia bằng cách thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, hoạt động theo kiểu mẫu của Mặt Trận Dân chủ, dưới hình thức của các hội “Cứu quốc” thay cho khẩu hiệu “Dân chủ” đã dùng trước đây. Đồng thời với Mặt Trận Việt Minh, ĐCSĐD cũng thành lập các tổ chức bù nhìn tương tự ở các nước khác ở Đông Dương: Ai Lao Độc Lập Đồng Minh và Cao Miên Độc Lập Đồng Minh, để đi đến thành lập Mặt Trận Thống Nhất Đông Dương.

Khôn ngoan hơn ai hết, tạm thời đình hoãn mục tiêu cách mạng vô sản, HCM biết lợi dụng chiêu bài “Độc lập dân tộc”, “Giải phóng đất nước”,… làm bình phong khuấy động dư luận, biết rằng đó là động lực tâm lý duy nhất quan tâm của mọi người Việt Nam. Một khi nắm được ưu thế trong chính quyền sẽ đương nhiên xây dựng Xã hội Chủ nghĩa bằng bạo lực chuyên chính vô sản…

ĐTQT tuyên bố giải tán năm 1943. Sau ba năm (1942-1944) ở Trung Quốc, đó cũng là thời gian cuối cùng mà HCM hoạt động với tư cách là nhân viên của ĐTQT, tháng 10/1944 HCM trở về Việt Nam, dựa trên uy tín quá khứ quốc tế của mình để củng cố địa vị của mình như là người lãnh đạo tối cao và trực tiếp của ĐCSVN, không còn nhân danh ĐTQT đưa mệnh lệnh từ ngoài vào như trước.

Cơ may cho ĐCSĐD, và đó cũng là một tai họa cho cả các dân tộc ở Đông Dương, nhờ vào vị trí của ĐTQT trong chiến tranh thế giới, ĐCSĐD trở thành phong trào có tổ chức chặt chẽ duy nhất ở Đông Dương đứng về phe Đồng Minh và đã lợi dụng được cơ hội này nắm được chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945.

4. Bàn lại vai trò của HCM.

Trên đây là một vài nét giải thích đường lối chính thức các hoạt động của ĐCSĐD kể từ khi ĐTQT được thành lập từ năm 1919 cho đến khi tổ chức này giải tán (lần thứ nhất) vào năm 1943. Có một điều căn bản đáng được ghi nhận ngay từ đầu là ĐCSVN chỉ là một sản phẩm của ĐTQT, được thành lập theo lịnh và tổ chức theo đúng một khuôn mẫu định sẵn từ ĐTQT đưa xuống. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, ĐCSĐD đã tự thỏa mãn như là “một bộ phận” và chấp nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của thế lực quốc tế này.

Điều thứ hai đáng được ghi nhận là vai trò và vị trí của HCM trong các quan hệ giữa ĐTQT và ĐCSĐD. Trên vấn đề này, ta có thể khẳng định rằng HCM không phải là người lãnh đạo tối cao của ĐCSĐD vì khi tự nguyện đụợc đứng vào hàng ngũ của ĐTQT thì ĐCSĐD đã chấp nhận “chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế…”. Như vậy, người lãnh đạo tuyệt đối ĐCSĐD là Đảng Cộng sản Liên Xô mà cụ thể là Staline. Ngay cả trong các tài liệu chính thức của Đảng, HCM đã chỉ được trình bày như là một “cấp trung gian” để chuyển đạt các mệnh lệnh và chỉ thị của ĐTQT xuống Đảng. HCM cũng không phải là người Việt Nam duy nhất chịu mệnh lệnh trực tiếp của ĐTQT!

Trên thực tế, ngay cả HCM, trong những lúc liên hệ với ĐCSĐD cho đến năm 1943, cũng vẫn luôn luôn tự xem mình như là “Người Đại diện Quốc tế Cộng sản”, một nhân vật không trực tiếp “nằm trong Đảng” nhưng lại “đứng trên Đảng” để “ban hành đường lối hoạt động cho Đảng”. Nói một cách khác, HCM chỉ là một người “làm công”, một “nhân viên” hay một “viên chức” (agent) của ĐTQT, có nhiệm vụ phải kiểm soát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của ĐCSĐD trước ĐTQT!. Chỉ bắt đầu từ khi ĐTQT tuyên bố giải tán vào năm 1943 thì chức vụ “Đại diện Quốc tế Cộng sản” không còn chính đáng nữa thì HCM mới trở về Việt Nam, dựa trên uy tín quốc tế cũ của mình và dành được vị trí lãnh đạo chính thức trong ĐCSĐD. Trong mọi trường hợp, các tư cách “Đại diện Quốc tế Cộng sản” của HCM cũng chỉ là những công việc tạm thời, chỉ được ĐTQT giao phó cho từng giai đoạn nhất định, không liên tục. Ngay cả trong ĐCSĐD cũng có rất nhiều người nghi ngờ tính cách “Đai diện” này của HCM, vì chỉ có như vậy HCM mới có thể đứng trên đầu trên cổ mọi người trong Đảng để sai khiến họ. Về các điểm này, trong hồi ký của Hoàng Tùng (5), nguyên Bí thư Trung ương Đảng và nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, ta có thể đọc:

“Năm 1931-32, ở Hương Cảng, Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc tế Cộng sản đề nghị giao việc, vì thời gian đó Bác chỉ làm nhiệm vụ một hộp thư. Đường giao thông giữa ta với Pháp bị vỡ do một anh thủy thủ Pháp bị bắt khai ra… Việc Bác được tha là nhờ luật sư Loseby… Việc Bác bị bắt rồi được tha, Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ có điều gì phức tạp trong vụ án. Tại sao lãnh tụ cộng sản mà được đế quốc tha yên ổn, cho nên trong vòng bốn năm họ không giao việc gì. Bác là nhân viên thường ở Ban thuộc địa. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng Người rất chán.

Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (1935), Bác không có cuơng vị gì cả. Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta họp trước đó bầu Bác là Ủy viên dự khuyết và còn ghi rõ là chỉ công tác ở nước ngoài. Chính vì thế nên Bác không có tên trong Đoàn đại biẻu của Đảng ta sang dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản. Đoàn đại biểu của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong. Sau khi xin việc mãi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suýt bị hạ vì những chuyện lôi thôi này. Ông lãnh tụ Nhật Bản Nosoka Sando cũng bị làm rầy rà. Những chuyện này Bác biết cả…”.

Có một điều mà gần như dư luận, ở trong cũng như ở ngoài Đảng, ở trong cũng như ở ngoài nước, ai ai cũng đều công nhận là HCM một viên chức phục vụ một cách đắc lực, đã áp dụng đúng đường lối của ĐTQT trong từng chi tiết một vào trường hợp của ĐCSĐD, mặc dầu trong nhiều trường hợp đường lối này có phần trái ngược với quan niệm của cá nhân mình… Về chiến lược hành động, ai ai cũng đều rõ ý đồ quen thuộc của HCM là đánh lừa dư luận bằng cách lợi dụng tối đa nhiệt tình yêu nước của mọi thành phần trong dân tộc, tạo ra những tổ chức quần chúng bù nhìn, tạm thời dấu kín các mục tiêu cách mạng vô sản của Đảng, đi đến một hình thức cộng tác bên ngoài với mọi phong trào yêu nước nhưng thực chất là thâm nhập vào nội bộ vừa lợi dụng, vừa lũng đoạn các tổ chức đối lập với Đảng. Với phương pháp hành động này, HCM chắc chắn là đã ở về phía đa số trong Đại hội năm 1929 của TNCMHVN ở Hương Cảng, muốn tạm thời đình hoãn việc thành lập ĐCSĐD. Nhưng phương pháp này của HCM đã không được giới lãnh đạo ĐTQT thấu hiểu mà còn bị xem là một khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, cải lương và hữu khuynh… Các đoạn văn sau đây trích từ hồi ký của Hoàng Tùng (5) cho phép soi sáng một phần nào các nghi vấn nêu ra trên đây về đường lối hoạt động, về vị trí của HCM đối với Đảng Cộng sản Pháp cũng như đối với ĐTQT, trong khoảng thời gian từ Đại hội VI (1927) của ĐTQT cho đến lúc ĐCSĐD được thành lập năm 1930. Bàn về “nỗi đau thứ hai”, trong số “10 nỗi đau lớn” của HCM, Hoàng Tùng viết:

“Nỗi đau thứ hai là, sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch, Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách phòng Đông Nam Á của Quốc Tế Cộng sản. Bác có đi dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) nhưng không được bầu vào Ban chấp hành. Lần này sang, do cách hoạt động của mình, Bác bị Liện Xô nghi ngờ là chưa đủ tiêu chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không được giao việc gì cả, không có chức vụ chính thức trong tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác phải xin tiền bạn bè để về…

Nghe tin ở nước nhà giải tánThanh niên cách mạng dồng chí hội để lập Đảng cộng sản, Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho rằng lúc đầu hãy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ yêu nước đã. Có tổ chức Đảng cộng sản chỉ là tổ chức bí mật chứ chưa đưa Đảng cộng sản ra và nói đấu tranh giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu.

Theo tôi tại sao lại lập Đảng cộng sản? Chuyện này có lẽ bắt nguồn từ Đảng cộng sản Pháp. Đảng cộng sản Pháp sợ liên lụy không giám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa nữa… Đảng cộng sản Pháp cho rằng Bác không lập ra Đảng cộng sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, lại phê phán Đảng cộng sản Pháp khá nhiều trên báo chí và ở Đại hội quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Pháp có ý không tán thành Bác. Đảng Cộng sản Pháp cử ba người trong phái đoàn Pháp sang Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1927), trong đó có Nguyễn Văn Tạo (Năm 1923, Nguyễn Văn Tạo là học sinh bãi khóa ở Sài Gòn được sang Pháp học, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp, rồi vào Trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không được bầu vào Trung ương, Bác làm việc ở Ban thuộc địa). Nguyễn Văn Tạo đề nghị là ở Đông Dương điều kiện đã chín muồi, đề nghị cho thành lập Đảng Cộng sản. Sau đó mới tác động đến nhóm Bắc kỳ Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, ba người hăng hái nhất lập ra Đông Dương cộng sản đảng, đề nghị giải tán Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Việc đó chính là phê phán Nguyễn Ái Quốc hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Bác vẫn im lặng tìm cách sửa sai việc đã rồi, vì ba tổ chức tìm cách chống đối nhau, gây chia rẽ. Sau Lê Văn Lương nói với tôi là khi Bác về, Trịnh Đình Cửu có hỏi Bác giấy ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, vì Bác nói là Quốc tế Cộng sản cử về, Bác trả lời: Đồng chí tưởng tượng xem, nếu tôi mang trong nguời giấy ủy nhiện của Quốc tế Cộng sản, thì liệu tôi có về được đến đây không?…”.

Hiển nhiên, trong các điều kiện kể trên, khi cả bốn phía (HCM và ba Đảng cộng sản ở Đông Dương) đều tỏ ý muốn phục vụ ĐTQT, thì phải chấp nhận sự kiện đã rồi và thống nhất các tổ chức. Đó là con đường sửa sai hợp lý nhất cho HCM. Điều còn lại là phải tiếp tục chứng tỏ sự trung thành tuyệt đối của mình đối với ĐTQT để tránh các biện pháp kỷ luật, khỏi bị thanh trừng như thường đã xẩy ra ở Liên Xô trong các thập niên 1920 và 1930…

Tôn Thất Long
(2006)

Tài liệu tham khảo:

1. 50 ans d’activités du Parti communiste du Vietnam. Edition en langues étrangères, Hanoi, 1980.
2. Pierre-Richard Feray: Le Viet-Nam, Collection Que sais-je?, Presse universitaire de France, 1984.
3. Nguyễn Thế Anh: L’itinéraire politique de Hồ Chí Minh, Đường Mới, Paris, 1990.
4. Tôn Thất Long: Le PCV, Congrès et évolution, Đường Mới, Paris, 1992.
5. Hoàng Tùng (Hồi kí): Hồ Chí Minh, Trung Quốc và Liên Xô.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2009

Bai 14:Một ngày lịch sử đáng ghi nhớ

Lech Walesa
Cách đây 20 năm,ngày 04-06-1989,lần đầu tiên sau 45 năm dưới chế độ cộng sản Ba Lan, một cuộc bầu cử tự do dân chủ đã được thực hiện. Người dân Ba Lan bằng lá phiếu đã loại bỏ chế độ độc tài toàn trị,,bắt tay vào xây dựng một quốc gia dân chủ.

Ngày 04-06-1989 như một hồi kèn báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại đông Âu và trên toàn thế giới, cho dù nó đã được những người cộng sản đông Âu tô vẽ thành ”chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người”

Để có được ngày 04-06-1989, những người đẩu tranh cho tự do dân chủ của Ba Lan đã dũng cảm, chịu đựng những hy sinh, bền bỉ, khéo léo tập trung dưới ngọn cờ của Công Đoàn Đoàn Kết (CĐĐK) đấu tranh với chế độ độc tài hơn 10 năm dòng.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày 04-06, chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt những sự kiện đã xẩy ra xung quanh ngày lịch sử này.

Những thỏa thuận về bầu cử tự do


Hội nghị Bàn Tròn
Theo thỏa thuận giữa chính quyền công sản Ba Lan và CĐĐK trong Hội Nghị Bàn Tròn (họp từ 06-02 đến 05-04-1989), ngày 04-06-1989 sẽ tiến hành bầu cử vào quốc hội và thượng viện. Trong 460 ghế của quôc hội, 299 ghế được giành cho đảng cộng sản và các đảng „vệ tinh” của họ không qua tranh cử, chỉ còn lại 161ghế được tranh cử tự do. Riêng thượng viện với 100 ghế, tất cả được tranh cử tự do.

Thỏa thuận trên đây đã giành ưu thế cho đảng cộng sản. Họ tin rằng với tương quan lực lương trong quốc hôi mới, họ vẫn giữ được chính quyền.Còn thành phần cứng rắn trong CĐĐK thì phản đối. Họ cho rằng với thế mạnh của các cuộc tổng đình công, CĐĐK có thể giành được chính quyền hay đạt được một thỏa thuận có lợi hơn. Nhưng những người lãnh đạo của CĐĐK đã chấp nhận thỏa thuận trên, vì chính quyền cộng sản lúc đó vẫn còn trong tay bộ máy công an và quân đội khổng lồ,mấy chục vạn quân Liên Xô với danh nghĩa quân đội khối quân sự Warszawa vẫn đang đóng trên đất Ba Lan, sẵn sàng can thiệp vào công việc nội bộ của Ba Lan. Cần nhượng bộ để từng bước tiếp theo đạt đến mục đích đã đặt ra.

Kết quả bầu cử

Các ứng cử viên của CĐĐK đã chiếm được 99 trong 100 ghế của thượng viện.Tại quốc hội, trong 161 ghế được tranh cử tự do, các ứng viên của CĐĐK đã chiếm trọn 161.

Kết quả bầu cử trên chứng tỏ người dân Ba Lan đã mất hết lòng tin đối với Đảng Cộng Sản. Nhưng Đảng Cộng Sản vẫn tin rằng,với đa số trong quốc hội, họ và các đồng minh của họ vẫn nắm được chính quyền.

Phân bố lưc lượng trong quốc hội như sau:

- CĐĐK: 161 đại biểu.

- Đảng Cộng Sản (PZPR): 173

- Các đảng và các đoàn thể liên minh của đảng cộng sản:
+ Đảng Nông Dân (ZSL): 76
+ Đảng Xã Hội Dân Chủ (SD): 27
+ Hội PAX: 10
+ Liên Minh Xã Hội Cơ Đốc Giáo: 8
+ Hội Công Giáo: 5

Những diễn biến sau bầu cử

Ngày 19-07-1989 quốc hội và thượng viện đã họp chung bầu tướng Wojciech Jaruzelski, nguyên bộ trưởng bộ quốc phòng, tổng bí thư đảng cộng sản, chủ tịch hội đồng nhà nước làm tổng thống. 544 đại biểu quốc hội và thượng viện, với 270 phiếu thuận (đòi hỏi đa số tối thiêu là 169), 233 phiếu chống (ngoài các đại biêu CĐĐK, có 11 người của đảng cộng sản và các đảng liên minh của họ).

Ngày 02-08-1989 quốc hội đã bầu tướng Czeslaw Kiszczak, cựu bộ trưởng bộ nội vụ làm chủ tịch hội đồng bộ trưởng với 237 phiếu thuân, 173 phiếu chống (ngoài CĐĐK có 5 phiếu của PZPR, 21 của ZSL và 3 của SD).

Ngày 07-08-1989, Lech Walesa ra tuyên bố đưa ra đề nghị hai đảng ZSL và SD rời bỏ liên minh với PZPR để cùng với CĐĐK thành lâp chính phủ mới.

Ngày 08-08-1989 Ủy Ban Toàn Quốc của CĐĐK ra tuyên bố: với một chính phủ mới, lại do đảng cộng sản chi phối, sẽ không có hy vọng để cải thiện tình hình chính trị, kinh tế của đất nước hiện đang rất xấu. Chỉ có lối thoát duy nhất là thành lập chính phủ liên minh giữa CĐĐK và hai đảng ZSL va SD. Để cảnh báo PZPR, tuyên bố cũng nhắc nhở CĐĐK các vùng và các địa phương cùng với CĐĐK của các nhà máy, xí nghiệp... chuần bị khả năng để phối hợp hành động toàn quôc phản đôi, nếu chính phủ do tướng Czeslaw Kiszczak được thành lập.

PZPR tuyên bố: việc vận động thành lập chính phủ liên minh giữa CĐĐK với ZSL và SD là trái với những thỏa thuận của Hội Nghị Bàn Tròn.


Lập chính phủ liên minh

Sau những vận động và tuyên bố của CĐĐK, ngày 16-08 hai đảng ZSL và SD tuyên bố rút ra khỏi liên minh với đảng cộng sản và ủng hộ đề nghị của Lech Walesa thành lập chính phủ liên minh với CĐĐK.


Tadeusz Mazowiecki
Khối đại biểu quốc hội của CĐĐK ra tuyên bố sẽ cùng với các đại biêu của ZSL và SD đứng ra thanh lập một chính phủ đoàn kết dân tộc, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, loại bỏ bộ máy quan liêu chỉ phục vụ đảng cầm quyền. Chính phủ mới sẽ bao gồm tất cả các lực lượng chính trị khác nhau của xã hội.

Trước tình thế mới, đảng cộng sản không còn cách nào khác là đồng ý để CĐĐK đứng ra lập chính phủ liên minh với hai đảng ZSL và SD.

Ngày 19-08-2009, tổng thống W. Jaruzelski đã chấp nhận sự từ chức chủ tịch hội đồng bộ trưởng của tướng Czeslaw Kiszczak do không thành lập được chính phủ đa số trong quốc hội và đề cử ông Tadeusz Mazowieski, nhà báo, tổng biên tập tạp chí „Đoàn Kết”(Solidarnosc) của CĐĐK.

Ngày 24-08 quôc hội đã bầu ông Tadeusz Mazowiecki làm chủ tịch hội đồng bộ trưởng với 378 phiếu thuận,4 phiếu chống, 41 phiếu trắng.

Thế là lần đầu tiến sau 45 năm một chính phủ không cộng sản đã được thành lập, đặt nền móng cho những chính phủ dân chủ kế tiêp xây dựng Ba Lan trở thành một quốc gia dân chủ.


Vai trò của trí thức

Từ trước tới nay khi nhắc đến CĐĐK, người ta thường nhắc đến Lech Walesa – người thợ điện huyền thoại, hay những cuộc tổng đình công với hàng vạn công nhân tham gia. Dĩ nhiên, đây là nhừng yếu tố quan trọng dẫn tới những thắng lợi của CĐĐK, nhưng đứng sát cánh những cuộc đình công hay bên cạnh Lech Walesa là những „bộ óc” của CĐĐK. Họ là những trí thức tài ba, giẩu lòng yêu nước, can đảm trong đấu tranh trực diện và khéo trong đối thoại, đàm phán. Chính họ là những người được giáo dục và trưởng thành trong chế đô cộng sản, đã phát hiện và tố cáo với thế giới những sai trái của chế độ cộng sản Ba Lan và gieo những hạt giống của phong trào đấu tranh đòi hỏi tự do, dân chủ tại Ba Lan. Chúng ta có thể kể sau đây một vài trí thức điển hình.


Bronislaw Geremek
Giáo sư Bronislaw Geremek, sinh ngày 06-03-1932 tại Warszawa. Ông tốt nghiệp khoa sử trường Đại Học Tổng Hợp Warszawa năm 1954. Từ 1956-1958 ông tu nghiệp tại Ecole Pratique des HauteS De Paris. Ông là đảng viên Đảng Công Nhân Thống Nhất Ba Lan (đảng cộng sản) từ năm 1950. Từ 1962-1965 ông giảng dạy tại đại học Sorbon Paris. Năm 1968 khi quân đội Liên Xô chiếm đóng và đàn áp phong trào đòi hỏi tự do dân chủ tại Tiệp Khắc, ông trả lại thẻ đảng và rời bỏ đảng cộng sản. Năm 1977 ông là đồng tác giả của lá thư gửi chính quyền cộng sản phản đối viêc bắt giam các thành viên của Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân (KOR). Năm 1983, ông bị bắt với tội danh „làm gián điêp”, sau được thả nhờ áp lực của Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnestia International). Từ 1987 ông trở thành một trong những cố vấn quan trọng nhất của Lech Walesa. Trong Hội Nghị Bàn Tròn ông là đại diện của CĐĐK trong tiểu ban cải cách chính trị. Sau ngày 04-06-1989 ông là chủ tịch nhóm đại biểu của CĐĐK trong quốc hội, chủ tịch ủy ban đối ngoại của quốc hội. 1997-2000 ông là bộ trưởng bộ ngoại giao và đã tích cực đưa Ba Lan trở thành thành viên của khối quân sự NATO. Ông mất trong môt tai nạn ô tô ngày 13-07-2008 khi đang là nghị viên của quôc hội Liên Minh Châu Âu (EU).


Jacek Kuron
Jacek Kuron sinh năm 1934 tại Lwow, tốt nghiêp khoa sử Đại Học Tổng Hợp Warszawa. Ông là đảng viên đảng Công Nhân Thống Nhất Ba Lan 1952-1953 và 1956-1964. Cả hai lần ông bị khai trừ ra khỏi đảng chỉ vì phê phán sự lãnh đạo của đảng. Năm 1964 ông cùng với một nhà sử học viết thư ngỏ gửi các đảng viên trong đảng và bị bắt tháng 7-1965, bị kết án 3 năm tù. Tháng 5-1967 ông được ra tù có điều kiện. Ông tham gia các phong trào phản kháng 03-1968 va 01-1969 và lại bị bắt với án 3,5 năm tù. Năm 1976 ông là một trong những sáng lập viên của Uỷ Ban Bảo Vệ Công Nhân (KOR) và lại bị bắt tháng 8-1980, được ra tù nhờ thỏa thuận kí kết giữa CĐĐK và chính phủ. Năm 1980-1981 ông cùng những người đối lâp thành lập Câu Lạc Bộ Tự Do, bị bắt lần thứ 5 với tội danh „âm mưu lật đỏ chế độ XHCN, được ra tù nhờ áp lực quốc tế tháng 7-1984. Năm 1988 ông làm việc tai Ủy Ban Công Dân bên cạnh L. Walesa. Ông tham gia Hội Nghị Bàn Tròn. Sau ngày 4-06-1989 ông tham gia chính phủ và giữ chức bộ trưởng Bộ Lao Động và An Sinh Xã Hội.


Adam Michnik
Adam Michnik là một sinh viên trẻ. Năm 1968 do đứng ra tổ chức sinh viên trường Tổng Hợp Warszawa phản kháng chế độ, anh đã bị đuổi học và lãnh án tù 3 năm. Năm 1977 tham gia Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân và bị bắt, được thả nhờ áp lực quốc tế. Sau đo anh còn nhiều lần bị bắt. A. Michnik là cố vấn của CĐĐK các nhà máy, rồi tham Ủy Ban Công Dân do L. Walesa trực tiếp lãnh đạo. Anh tham gia Hội Nghị Bàn Tròn. Sau tháng 4-06 anh là đại biểu quốc hội 1 khóa và trở thành tổng biên tập của tờ „Wyborcza“ (Bầu cử), nhật báo độc lâp đầu tiên của Ba Lan. Hiện A. Michnik vẫn là tổng biên tập, đây là một trong nhưng nhât báo lớn nhất của Ba Lan, luôn đứng ra bảo vệ những giá trị của tự do, dân chủ và chống tham nhũng.

Kết luận

Ngày 4-06-1989 đã chứng tỏ rằng có thể chuyển đổi một chế độ độc tài toàn trị sang chế đô tự do dân chủ bằng phương pháp bất bạo động.

Bầu cử dân chủ và lập chính phủ không cộng sản đầu tiên tại Ba Lan là bước đột phá, làm sụp đổ các chế độ cộng sản đông Âu và góp phần phá bỏ bức tường Berlin, chấm dứt chiến tranh lạnh trên thế giới.

Những người đấu tranh cho dân chủ Ba Lan đã thành công vì họ đã biết tập trung vào mục đích chính. Tham gia CĐĐK là hàng triệu người, những con người từ những tôn giáo, đảng phái, thành phần, cá tính v.v… rất khác nhau, nhưng họ biết đặt sang một bên những khác biệt, tâp trung vào mục đích tối thượng là dẹp bỏ chế độ độc tài cộng sản.

Ngày nay Ba Lan là môt quốc gia dân chủ thực sự, là thành viên của khối quân sự NATO, là nền kinh tế thứ 7 trong 27 nước của Liên Minh Châu Âu (sau Đức, Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan). Phải chăng đó không phải là thành quả bắt nguồn từ ngày 4-06-1989?

Waszawa 01-06-2009

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2009

No13: Truyền thông VN sợ 'Trung Quốc'?



Trên các báo chí của truyền thông nhà nước Việt nam người ta thường tránh né từ Trung quốc khi nhắc tới những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước.

Qua một số sự kiện liên quan đến Trung quốc trên truyền thông của VN từ đầu năm đến nay người ta nhận thấy truyền thông nhà nước cố tình tránh né khi nhắc tới tên anh láng giềng khổng lồ này.

Xin dẫn một số ví dụ:

1.Ngày kỷ niệm 30 năm cuộc chiến Việt Trung, 17/2/2009 vừa qua và đây là phép thử đối với sự can đảm của truyền thông Việt Nam.

Những bài viết công phu và có lửa về các biến cố ở biên giới phía Bắc cách đây ba thập niên đã xuất hiện nhiều trên blog và trên truyền thông ở ngoài Việt Nam.

Nhưng các tờ báo chính thống của truyền thông nhà nước hoàn toán im hơi lặng tiếng .

2.Khi Thủ tướng Ôn Gia Bảo của Trung Quốc bị ném giày ở Đại học Cambridge thứ Hai tuần trước, hầu như không tờ báo nào của Việt Nam đưa tin.

Cho tới cuối tuần đó mới có một bài báo nói về điều được gọi là ''văn hóa quái dị'' của chuyện ném giầy và trong đó ông Ôn Gia Bảo được nhắc tới với tên ''thủ tướng của một nước''.

Trong khi đó trong cùng bài viết, tên của một đại sứ Israel bị ném giầy và dĩ nhiên tên của Tổng thống George W. Bush được tác giả bài viết đề cập tới.

3.Sự kiện tàu Trung quốc đâm vào tàu cá VN được đưa tin là "tàu lạ của nước ngoài" mà ai cũng biết rằng đó là hành động cảnh cáo của Trung quốc sau khi tuyên bố"Cấm đánh cá trên biển đông".

4.Một số bài báo khi nói đến các nghĩa trang liệt sĩ ở biên giới phía bắc có nhắc tới các bia mộ của các liệt sĩ thì nói liệt sĩ chống Pháp,liệt sĩ chống Mỹ và liệt sĩ chống Trung quốc thì được ghi là liệt sĩ hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc???

Trước đó cũng đã có nhiều cơ sở để tin rằng truyền thông Việt Nam có sự sợ hãi khi nhắc tới hai chữ Trung Quốc trong những tình huống mà họ sợ rằng Bắc Kinh có thể phật lòng.

Cho dù đó là các vụ bê bối, những chỉ trích Trung Quốc của thế giới hay những cuộc biểu tình phản đối của chính Việt Nam.

Thái độ này khác hẳn với các diễn biến của những năm 79/80, khi mà những lời hát ''quân xâm lược bành trướng dã man đã dày xéo mảnh đất tiền tiêu. Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương... '' vang vang khắp nơi.

Há miệng mắc quai

Nhưng có lẽ truyền thông ngày nay chỉ sợ chỉ trích có Trung Quốc ngoài nỗi sợ 'miệng nhà quan có gang có thép'.

Mỗi dịp 30/4 hàng năm người ta chẳng hề ngại khi nhắc tới thành tích 'oanh liệt' của miền Bắc đối với Mỹ (mà trên thực tế là đối với người Việt).

Sự kiểm duyệt truyền thông của Việt Nam chỉ làm cho ngành này trông thiểu não khi đứng cạnh truyền thông quốc tế.

Thế nhưng liệu đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc sẽ giải thích thế nào nếu bị triệu đến khi đài báo Việt Nam chỉ trích Bắc Kinh?

Giá như họ không kiểm soát truyền thông có lẽ Việt Nam đã có thể nói rằng báo chí tư nhân hoạt động theo luật pháp và họ không vi phạm luật nên không can thiệp nổi.

Nhưng sự khao khát kiểm soát của nhà cầm quyền đã khiến họ há miệng mắc quai.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

No 12: KHI CUỘC SÁT HẠCH MỚI MỞ ĐẦU

Kỳ 5 của Quốc hội trong nước đã qua 10 ngày họp đầu trong 30 ngày dự định. Chưa có kỳ họp nào được dư luận và cử tri quan tâm theo dõi như kỳ họp này, dù ai cũng biết quốc hội do nhóm lãnh đạo của đảng CS chọn lựa để ép dân đi bầu không có lựa chọn, chẳng thể phản ánh nguyện vọng và lợi ích của người dân.

Vào năm 2009 này, đã có một số yếu tố mới trong hiện tình đất nước. Sau khi mở cửa, gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO, sau khi đảng độc quyền buộc phải cam kết tôn trọng nhân quyền và luật pháp quốc tế, dân trí xã hội được nâng lên rõ rệt, nỗi sợ cường quyền cố hữu giảm hẳn, một xã hội dân sự bắt đầu hình thành, lớn dần, loang dần, tự khẳng định ngày một rõ, bất chấp sự ngăn cản, lườm nguýt, cay cú của nhóm quan chức trên đỉnh cao quyền lực và một số bộ hạ của họ.

Kỳ họp quốc hội này là cuộc sát hạch nghiêm ngặt đối với 493 đại biểu, xem ai tự coi là đại biểu của nhân dân, ở cơ quan quyền lực cao nhất, giữ lời hứa với cử tri, coi trọng quyền lợi của nhân dân, dám nói thẳng, nói thật điều mình tin là đúng; và ai vẫn là "nghị gật", suốt kỳ họp không nói được một câu nào, một ý nào có ích, ngậm miệng ăn tiền, hay chỉ nói những điều êm tai cấp trên, quay lưng lại nhân dân và cử tri, theo kiểu "sống chết mặc bay, ghế ông ông giữ ! ".

Đây còn là cuộc khảo sát chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu cùng một loạt bộ trưởng có liên quan đến dự án Bauxít, và cuối cùng là cuộc khảo nghiệm sự lãnh đạo của bộ chính trị gồm 15 con người độc quyền cai trị đất nước, trước con mắt quan sát chặt chẽ của toàn dân và cả thế giới.

Qua 10 ngày họp khá sôi nổi, có thể rút ra những nhận xét sốt dẻo gì ?

Trước hết đã có một số đại biểu (ĐB) mạnh dạn lên tiếng về vấn đề Bauxít, một vấn đề mà chính quyền và bộ chính trị muốn tránh né, muốn lẩn như trạch, ngăn cấm không cho báo đài đưa tin, bàn luận suốt 4 tháng ròng; 3 người lên tiếng khá mạnh là các ĐB Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Lân Dũng và Dương Trung Quốc. ĐB Thuyết chứng minh dự án không mang lại lợi ích kinh tế mà có thể lỗ rất to nếu tính cả việc làm đường sắt 300 km, từ độ cao 700 mét xuống cảng Kê Gà (tốn 3,1 tỷ đôla); tai họa môi trường do bụi đỏ và bủn đỏ sẽ lưu cữu lâu dài như quả bom bùn 1,5 tỷ tấn; vấn đề an ninh quốc phòng tại "mái nhà của đất nước", giữa vùng chiến lược trọng yếu là Tây Nguyên là cực kỳ hiểm nguy. Cả 3 vấn đề lớn ấy đều chưa có lời giải rõ ràng. ĐB Thuyết chỉ rõ ý định lẩn tránh thảo luận tại quốc hội, lẩn tránh sự giám sát của quốc hội là hành vi "lách luật", nghĩa là hành vi phạm pháp, xấu xa đen tối, không thể chấp nhận được. ĐB Dũng chỉ rõ quyền giám sát của Quốc hội đối với đại dự án Bauxít theo các tiêu chuẩn đã được xác định; quốc hội cần phải vào cuộc, dân chủ bàn bạc, giám sát chặt chẽ từng bước. ĐB Quốc nhận xét báo cáo chính phủ tập trung ứng phó với bão táp kinh tế tài chính là cần thiết, nhưng sao không báo cáo về bão táp ngoài biển đông, quan hệ đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, do đó " báo cáo của chính phủ chưa tương xứng với độ nóng của tình hình thực tiễn ". Ông chỉ rõ vấn đề khai thác Bauxít hệ trọng, được cả nước quan tâm đặc biệt, chỉ được có "vài dòng lướt qua" trong báo cáo của chính phủ. Ông cũng phê phán : sau 2 ngày quốc hội họp, chính phủ mới gửi báo cáo về vấn đề khai thác Bauxít, lại ủy quyền cho bộ trưởng thương mại thảo và ký,"đó là tư duy đối phó nhiều hơn là nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề ". Ông phàn nàn là Đại tướng Võ nguyên Giáp gửi lá thư thứ 3 cho Quốc hội từ ngày 20, mà nay sau 4 hôm nhiều ĐB vẫn chưa biết; đó là lá thư yêu cầu khẩn thiết ngừng hẳn việc khai thác Bauxít kể cả ngừng việc làm thí điểm, vì hiểm họa rõ ràng về mọi mặt. Cuối cùng (nhân danh nhà sử học) ông mong có dịp trình bày cho chính phủ hiểu rõ lịch sử hình thành của địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Phối hợp với diễn đàn quốc hội, mạng Bauxite Việtnam.info đăng ngay bài xã luận

Độ tin cậy của một bản báo cáo, chỉ rõ bản báo cáo của chính phủ thiếu thẳng thắn ngay thật, mang tính chất đối phó, lại thiếu chính danh vì giao cho một bộ trưởng thảo và ký, mà bộ trưởng này đang mất uy tín lớn do đã để cho mạng thông tin của bộ này phối hợp với bộ thương mại Trung quốc đưa những thông tin đi ngược lại quan điểm về chủ quyền, lãnh thổ của nước ta (một tội hình sự nặng có thể bị truy tố). Bài xã luận phê phán bản báo cáo dùng luận điệu quanh co, chỉ hứa hẹn mà không có cơ sở, không có sức thuyết phục.

Nhân danh các nhà khoa học am hiểu vấn đề, 4 giáo sư tiến sỹ Đỗ Bá Thành, Lê Quốc Thanh, Trần Minh Trí, Hoàng Tâm Quang phản biện toàn diện bản báo cáo của chính phủ (trên mạng BauxiteVietnam info), đánh giá bản báo cáo không ngang tầm hiểu biết khoa học cần thiết, thiếu dẫn chứng kinh nghiệm thực tế, thiếu ứng dụng cụ thể cho địa bàn Tây nguyên, lại còn vi phạm hiến pháp, vi phạm luật pháp, vi phạm trình tự nghiêm chỉnh chuẩn bị, xây dựng, bàn luận, xét duyệt dự án, thiếu đề án tiền khả thi tuyệt đối cần thiết...

Trong và ngoài quốc hội, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị phê phán là thiếu coi trọng quốc hội, báo cáo phớt lờ vấn đề nóng hổi ở biển Đông, báo cáo quá sơ sài vấn đề khai thác bauxít, ủy nhiệm một bộ trưởng có vấn đề, thiếu tư cách để thay mặt chính phủ; ông từng hứa với tướng Giáp là chính phủ xin nghe theo lời khuyên ... đê ngay ngày hôm sau nói ngược hẳn lại ! Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng bị nhận xét là không nắm được vấn đề, không am hiểu quyền hạn, trách nhiệm của quốc hội. Cho đến tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng bị nêu lên là vì sao một vấn đề trọng yếu chưa được chính phủ quyết định, chưa được quốc hội bàn luận thông qua mà từ năm 2001 đã sớm sủa vội vã đưa một dự án vào bản tuyên bố chung với phía Trung quốc ? Sao lại có sự lộn xộn, không theo phép nước đến vậy.

Một loạt bộ trưởng và quan chức bị các đại biểu và công luận điểm danh, như bộ trưởng tài nguyên và môi trường đã chậm thấy thảm họa môi trường ở sông Đồng nai do công ty Vedan gây nên, nay lại không ngang tầm đối với tai họa Bauxít; như bộ trưởng kế hoạch và đầu tư không quản chặt trình tự xây dựng dự án theo luật định; như bộ trưởng lao động ú ớ mù mờ không biết lao động nước ngoài ở mỗi địa bàn là bao nhiêu, bao nhiêu là lao động phổ thông?

Có thể nói kỳ họp quốc hội hiện tại mới ở đoạn đầu đã có nhiều nét khác trước. Trước kia,các ông bà nghị chỉ quen vỗ tay và gật. Vì bao giờ bộ chính trị cũng "vô cùng sáng suốt"; bao giờ thủ tướng và cả chính phủ cũng "đúng đắn", "am hiểu sâu sắc tình hình" và có những "quyết định chuẩn xác" làm "xoay chuyển tình thế tốt đẹp". Bao giờ đảng, chính phủ, quốc hội, mặt trận và nhân dân cũng đoàn kết thành một khối thống nhất, vững chắc như bàn thạch(!). Người dân gọi mỗi cuộc họp là một đại hội của các khẩu hiệu học thuộc lòng, tóm tắt là : đảng chỉ tay, mặt trận vỗ tay, quốc hội dơ tay, và kết quả là nhân dân trắng tay và gánh đủ mọi tai ương.

Lần này, cuộc họp quốc hội đã không còn như trước. Danh từ "phản biện" xưa kia cấm kỵ, kiêng kỵ, bị gán cho là một danh từ phản động (!), thì nay được công khai lắp đi lắp lại, như một việc làm cần thiết, khoa học, hợp đạo lý, hợp lòng người.

Từ nay, các đại biểu có thể công khai nói to rằng : đảng, chính phủ, thủ tướng ... đã phạm sai lầm, đã vội vã, lầm lẫn, đã thiếu trách nhiệm, đã vi phạm hiến pháp, đã vi phạm luật, đã ứng phó, đã đối phó, đã thiếu chính danh, đã không thành thực, đã làm sai ở vấn đề này, ở trường hợp kia, ở điểm cụ thể khác, v.v... và v.v...

Sau 10 ngày tập sự dân chủ, còn 20 ngày nữa sẽ ra sao? Vấn đề Bauxite nổi cộm sẽ đi đến kết luận như thế nào, sẽ ngả ngũ ra sao đây ?

Có thể có nhiều khả năng, ở những mức độ khác nhau.

Khả năng cao nhất là ngưng hẳn mọi dự án, ngừng cả những thí diểm, chuyển sang đầu tư theo chiều sâu cho phương án Tây Nguyên Xanh, trồng lại rừng, tăng năng xuất cây công nghiệp, mở rộng mạng lưới thuỷ điện vừa và nhỏ, xây gấp đường sá, trường học, trường dạy nghề, bệnh viện, bệnh xá, vườn trẻ, nhà văn hoá... Để dành tài nguyên Bauxite cho tương lai khi đã có đủ tài, đủ tiền để khai thác có lợi nhất. Chỉ có thể đạt khả năng này khi tinh thần độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia được khẳng định mạnh mẽ.

Khả năng thứ hai là có sự nhân nhượng và thoả hiệp - consensus -. Không ngừng hẳn, cũng không làm bằng mọi giá. Phải điều chỉnh kế hoạch hiện tại. Hãm bớt tốc độ một số dự án. Trong khả năng này, có thể có nhiều mức độ khác nhau. Có thể chỉ làm thí điểm trong 1, 2 năm trước mắt. Trong khả năng này, cần có sự giám sát chặt chẽ của công luận, của các nhà khoa học sáng suốt để phát hiện những kẽ hở, những mưu đồ làm chui, xé rào, gian xảo. Đây có thể coi là thắng lợi bước đầu của trào lưu dân chủ, của xã hội dân sự đang trên quá trình hình thành.

Khả năng sau cùng là do sự khiếp nhược của bộ chinh trị đối với nước láng giềng, họ sẽ giả bộ lùi để mua thời gian, rồi đâu sẽ vào đấy, với luận điệu là "toàn dân Tây nguyên đều mong muốn " (!), như ĐB Lâm đồng và Đak Nông khẳng định một cách hàm hồ và lạc lõng. Khả năng này sẽ khiêu khích các nhà khoa học sáng suốt và khiêu khích thế lực dân chủ, kích thích sự phản kháng, kích thích sự phát triển của xã hội dân chủ. Bộ chính trị vẫn chỉ coi quốc hội như vật trang trí.

Trong 3 tuần lễ còn lại, đoàn chủ tịch kỳ họp có thể viện cớ bận thông qua quá nhiều luật (như các Luật cơ yếu, điện ảnh, dân quân tự vệ, người cao tuổi, sở hữu trí tuệ, viễn thông, quản lý thuế, di sản văn hoá, khám bệnh chữa bệnh ...) để hạn chế bàn về Bauxít, để tránh né một cuộc bỏ phiếu về ngừng hay tiếp tục các dự án Bauxít; nhưng quốc hội có toàn quyền điều chỉnh thời gian cũng như về nội dung thảo luận và biểu quyết.

Việc bàn về chống tham nhũng sẽ có ít nhiều sóng gió, khi vụ PMU 18 sau 3 năm vẫn lây bây, khi vụ PCI với bị can Huỳnh Ngọc Sỹ còn bị che kín, khi vụ "đề án 112 của chính phủ" tổn phí 247 tỷ đồng đang bị chìm, vụ ăn hối lộ 10 triệu đôla Úc khi in tiền của con ngài cựu thống đốc ngân hàng vừa vỡ lở; người dân chờ xem ông thủ tướng kiêm trưởng ban phòng chống tham nhũng sẽ ăn nói ra sao với các ĐB quốc hội về quyết tâm (!) trị tham nhũng vừa qua của ông.

Trong 3 tuần lễ còn lại của kỳ họp quốc hội, sẽ còn có bao nhiêu, - ít hay nhiều ĐB dám nói lên tiếng nói của chính mình, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi của nhân dân ? đây còn là một ẩn số; ẩn số này có thể tác động đến kết quả cuối cùng của kỳ họp quốc hội, một kỳ họp khá sôi nổi, do bước đầu làm quen với phản biện, mà người dự để quan sát không còn phải ngủ gật dài dài như trước đây.

No 11:Tan Hoang Cửa Nhà



Ký sự của Bút Thép

Trong hai ngày 20 và 21 tháng 5 năm 2009 vừa qua, chính quyền quận 9 đã thực hiện thành công tốt đẹp công cuộc cưỡng chế phá nhà đoạt đất của hai gia đình lương dân đang sinh sống yên bình. Bất chấp các khiếu nại của người dân chưa được giải quyết thỏa đáng, bất chấp sự phản đối trong tuyệt vọng của gia đình các nạn nhân và bất chấp lời nguyền rũa phỉ nhổ của hàng trăm người dân ở quận 9. Khôi hài hơn, sau khi cưỡng chế, những người trong chính quyền còn gặp gia đình các nạn nhân để chia buồn và bài tỏ sự xót xa cảnh màn trời chiếu đất do chính họ tạo ra cho các nạn nhân [?????!!!!].

Hai là đình bị cưỡng chế đó là gia đình ông Sáu Ngữ [ Nguyễn Xuân Ngữ, ngụ tại 166/6 Mỹ Thành, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, tp sài Gòn. Tel: 0084 08 3887 1302 hoặc mobil: 0913777040] và gia đình ông Hai Chùm [ Huỳnh Văn Chùm, ngụ tại 153/6 phường Long Thạnh Mỹ, quận 9, tp Sài Gòn. Tel: (0084 08) 3890 1548 ].

KHI CHANH CHỉ CÒN VỎ

Nhìn cơ ngơi của ông Sáu Ngữ nhiều người nhầm tưởng ông là một đại gia từ thành phố về mua đất lập trang trại dưỡng già. Không mấy ai biết rằng ông là người lính trở về từ chiến trường với hai bàn tay trắng. Khi về hưu, theo lời kêu gọi phát triển kinh tế của đảng cộng sản nên ông đã bán hết tài sản, mượn vốn của bạn bè và vay thêm tiền ngân hàng để về quận 9 lập nghiệp. Ông mua hơn 3.600 mét vuông đất hoang hóa, sình lấy, nhiễm phèn để xây dựng trang trại. Khi ông mua, đất của ông nằm trong quy hoạch nhà vườn sinh thái nên chính quyền quận 9 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp do ông làm chủ. Và ông đã vay thêm tiền để đầu tư thành trang trại nhà vườn sinh thái rất đẹp. Trang trại của ông được xây tường bê tông cốt thép kiên cố bao bọc. Bên trong có hồ nước bao quanh tiểu đảo nuôi gấu, trăn, nhím,… dưới hồ nuôi thủy đặc sản: ba ba, rùa, cá chình, chép, bống mú,… Khu chuồng trại nuôi hàng trăm gà tây, gà ta, ngỗng,… Trong vườn ông trồng nhiều loại thuốc nam như sake, đinh lăng, diệp hạ châu,… và nhiều cây ăn trái khác như mít, xoài, ổi, bưởi , , mận,… Ngoài ra ông còn có khu nuôi ươm trứng baba, mỗi năm có thể ươm hàng chục ngàn con giống baba con. Nhìn cơ nghiệp đó, người ta có thể nghĩ rằng ông sẽ được an nhàn hưởng thụ tuổi già.

Ai có ngờ đâu tai họa giáng xuống gia đình ông từ chính những người mà ông gọi là đồng chí. Cơ ngơi đầu tư trị giá cả ngàn lượng vàng chưa trả hết nợ ngân hàng và nợ vay của bạn bè thì chính quyền quận 9 ra quyết định thu hồi với lý do phục vụ dự án khu Công Nghệ Cao. Là một cựu chiến binh và cũng từng là đảng viên cộng sản nên ông sẳn sàng chấp hành quyết định của chính quyền với điều kiện phải đền bù thỏa đáng với mức đầu tư của ông theo thời giá thị trường. Không thể nào chấp nhận giá đền bù của chính quyền quận 9 chỉ tương đương gần 50 lượng vàng. Vì như thế thì ông lấy đâu ra tiền để bù lại tiền vay ngân hàng đã đầu tư. Ông đã kêu gọi khắp các cơ quan của nhà nước nhằm mong muốn họ giải quyết công bằng cho ông nhưng vô ích. Hơn 4 năm nay không ai giải quyết cho ông. Cho dù ông viện dẫn các điều luật hiện hành thì người ta cũng phớt lờ. Và chính quyền quận 9 đã tung quân tàn phá cơ ngơi của ông trong sự tuyệt vọng và quẫn trí của ông và các con của ông.

Anh Út, một người dân cùng xóm, kể lại:” Tội nghiệp lắm, hôm qua ổng như người mất trí vậy. chạy tới chạy lui mất hồn, không biết phải làm gì. Tụi nó thì chỉ biết làm theo lệnh. Xe ủi húc cửa, cào nhà , xô tường ngã tan nát hết. Nhà mái tole của ổng chúng nó ủi bay xuống ao, cây cối cưa ngang ngã gục xuống hồ nước. Gấu của ổng tụi nó bắn thuốc mê rồi chở đi. Cá dưới hồ không kịp lưới lên, cây cối ngã xuống vài bữa là chết sạch. Thiệt nhìn cảnh dã man hết chổ nói. Hơn cả chiến tranh. ”.

Anh Quẩn nói:” Dân muốn đến xem là bị đuổi đi. Ai lạng quạng là bị bắt quăng lên xe bít bùng. Tôi vô được một lát cũng bị hai thằng công an kè xốc nách lôi ra”.

Tôi hỏi:” bà con mình có ai chụp được tấm hình nào không ?”.

Một người trả lời:” Làm sao chụp được, tụi nó đông như kiến. Ai chụp hình là chúng nó giật máy ngay. Con ông Sáu Ngữ chụp hình cũng bị tịch thu xóa sạch. Hủy hết. Không để lại chứng cứ gì mà. Có hình để mấy ông tung lên mạng tố cáo chúng nó à? Bây giờ tụi nó khôn lắm rồi”.

Ông Sáu Ngữ kể:” Tôi quay phim chụp hình được nhiều lắm, như chiều hôm qua chúng nó tước lấy máy tôi rồi xóa sạch.”.

Tôi hỏi ông Sáu Ngữ:” Tình hình sao rồi chú?”. [Hỏi rồi mới thấy mình hơi bị vô duyên].

Ông nói như vô hồn:” Tan nát hết. Đang gom sắt vụn bán ve chai. Có cách nào tố cáo lên báo đài quốc tế không? Báo chí trong nước mời không ai dám xuống. Hôm qua có phóng viên báo Quân đội nhân dân đến xem, không biết có dám viết không? ”.

Tôi xót xa nhìn nhà cửa cây cối tan hoang mà hỏi vớt vát:” Sao chú không xin họ cho thời gian ít hôm rồi mình tự tháo cho đỡ hư hao ? ”.

Ông già trên 70 muốn khóc:” Tôi như chanh chỉ còn vỏ, họ nào cần nữa. Vứt càng sớm càng tốt đấy mà. Chúng nó có tâm đâu mà xin với xỏ.”.

Ngưng một chút rồi ông nói thêm:” Chiều qua có hai thằng công an đến chia buồn với tôi. Chúng bảo xót xa lắm nhưng không biết phải làm thế nào.”.

Tôi nghe mà muốn văng tục. Bỉ ổi hết mức.

Người ta kể lại rằng con trai ông tưới xăng định tự thiêu thì công an ập đến bắt lên xe chở đi. Thế thì xem như các đồng chí công an quận 9 làm được việc tốt là cứu được một mạng người.

Một anh công an cảm thấy bất nhẫn nên bỏ ra quán uống bia, anh tâm sự: ”Tôi không liên quan gì đến vụ này mà cấp trên cũng lệnh phải đi. Biết làm sao được. Mình không làm lại chúng nó đâu. Bẻ nạn chống trời sao được. Đi vầy tôi được thưởng 100.000 với một hộp cơm trưa.”. Anh này chắc còn chút lương tri nên cảm thấy xấu hổ. Thế là tốt.

Không biết những người đến phá nhà ông Sáu Ngữ có biết rằng họ cũng là những trái chanh đang bị vắt ? Khi chỉ còn vỏ thì có hơn gì ông Sáu Ngữ hay không ?

SAO KHÔNG CÒN BIẾT TÌNH LÝ ?

Láng giềng cùng cảnh tang thương như ông Sáu Ngữ là gia đình ông Hai Chùm. Một gia đình nông dân nghèo sống nhiều đời ở địa phương. Ông Hai nuôi bò rất giỏi, có khi đàn bò của ông lên đến hơn hai chục con. Từ khi bị vướng quy hoạch ông phải bán bớt, chỉ còn lại vài con.

Ông mời tôi ngồi bên bụi trúc còn sót lại sau cuộc cưỡng chế hôm qua rồi kể:” Tôi nói chú nghe. Nhà tôi có 11 người. Tôi sống ở đây không phải mua thứ gì. Rau cỏ, cá mắm, lúa gạo, gà vịt tự gia đình cung cấp cho cuộc sống hàng ngày. Đây là 1300 mét vuông đất của tôi nhà nước muốn lấy thì cũng được. Nhưng nhà nước phải tái bố trí gia đình 3 đứa con tôi 3 cái nền riêng để chùng nó ở. Tôi cũng phải có chổ để ở riêng. Sao nhà nước không giải quyết tình lý gì cả vậy? Nhét cả gia đình tôi đi đâu đây? Tôi lấy gì mà sống? ”.

Rít một hơi thuốc ông than vãn:” Chú coi đó. Tôi xin nó để cái chuồng bò tôi ba bữa để tôi kêu người bán mà cũng không được. Phá sập hết. Con dâu tôi sanh mới 10 ngày mà nó cũng hốt lên xe cứu thương chở đi. Tôi khiếu nại lên đến thành phố rồi mà cũng không được. Tôi đâu có chống đâu, giải quyết đàng hoàng là tôi đi ngay, cần gì cưỡng chế ”.

Anh Mến, một người cùng xóm kể:” Ông Hai là một nông dân rặt của vùng này. Cả đời ông chăm chỉ, lam lũ làm ăn. Nghèo nhưng rất lương thiện. Không rượu chè cờ bạc, không mít lòng đến đứa con nít trong xóm. Bây giờ thì ông ấy mất hết ”.

Ông Hai chỉ ngôi nhà tường đổ nát nói thêm:” Chú coi. Có thua gì mùa hè đỏ lửa 1972. Thời chiến mà gia đình tôi không mất đất mất nhà. Nay thời bình mà nhà cửa của tôi tan nát hết”.

Ông Hai Chùm đứng dậy đi gom tole, cây vụn lại. Có lẽ để dành cất chòi. Không biết đất còn đâu mà cất. Cất ở đây thì ít hôm chính quyền cũng đến phá sập thôi.

LƯƠNG TRI CÒN NGƯỜI CÒN HAY MẤT ?

Nhìn cảnh nhà cửa của gia đình ông Sáu Ngữ và ông Hai Chùm thật là xót xa. Thật tình tôi cũng không biết an ủi họ thế nào để bớt đi nỗi đau mà họ đang gánh chịu. Tôi tự hỏi điều gì đang xảy ra trên quê hương tôi. Trong số thủ phạm gây ra nỗi đau cho họ có những người là cô chú tôi, anh em và bè bạn của tôi. Bình thường họ cũng là những con người không quá xấu xa ở mức dưới trung bình. Vậy mà khi họ phục vụ cho chính quyền cộng sản thì họ hoàn toàn khác hẳn. Họ biết là sai trái đấy. Nhưng họ lại đang tâm làm những điều sai trái. Họ phục vụ cho ai? Cho nhân dân hay cho bọn thẻ đỏ tim đen đang tiếm quyền hóa loài ngạ quỉ ? Có bao giờ họ thao thức vì những việc làm tội lỗi của họ không ? Ai cũng cho rằng bẻ nạn chống trời mà buông xuôi. Họ theo bọn cơ hội ức hiếp dân lành nhưng chính họ và gia đình của họ cũng đang bị bóc lột đến cùng kiệt. Vì cái gì ? Vì miếng cơm manh áo hàng ngày của vợ con chăng ? Vì chút quyền lực nhỏ nhoi để chèn ép những kẻ yếu thế hơn ? Lương tâm của họ đâu rồi ? Tính thiện trong mỗi con người của họ có còn không ?

Đến bao giờ thì những cảnh đau thương này không còn nữa ?

Tp Sài Gòn, 22/05/2009.

Bút Thép.

Bonus: Một số hình ảnh