Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2009

No10: Đại tướng Võ Nguyên Giáp và 4 điều tiết lộ .


Ngay thời kỳ còn là giáo viên trường làng, với tư cách là con của cựu chiến binh, một người nổi tiếng với thành tích... hiếu thắng, thích tranh luận, từng làm cho các thầy dạy mình (trường Lục quân khoá 4) nhiều phen... đớ lưỡi, cứng họng, đờ hàm, vì không trả lời nổi câu hỏi hóc búa của bố tôi, ông đã thực sự gây được ấn tượng trong tầng lớp bạn bè cùng học cũng như các thầy cô, trong đó có tướng Giáp. Vì thế, ngay cả khi ông đã mất, bạn bè vẫn tiếp tục qua lại hỏi thăm, giúp đỡ gia đình tôi. Cũng vì thế, hai mẹ con tôi nhiều lần được theo những người bạn của bố vào thăm tướng Giáp tại nhà (số 25 Hoàng Diệu) cũng như trong các cuộc họp truyền thống của trường Lục Quân vào ngày 15-4 hàng năm. Khi đó, ông thường xuất hiện trước đám đông trong bộ đồ sĩ quan quân đội, nổi tiếng với câu nói hóm hỉnh: "Năm nay mình đã hơn 70 tuổi rồi, nhưng vẫn là một thanh niên già, vẫn có thể cưỡi ngựa, trèo đèo lội suối như thời kỳ còn ở Sông Công, Núi Guộc (Thái Nguyên), nơi trường Lục quân Trần Quốc Tuấn đóng quân.
Sau đó, tôi chuyển sang làm phóng viên báo đảng, cũng là phóng viên nữ duy nhất của toà soạn báo Cựu Chiến Binh, nên càng có điều kiện tiếp xúc với tướng Giáp nhiều hơn (vào các dịp lễ thượng thọ, sinh nhật, lễ, tết v.v) ..một trong những lần đó là ngày sinh lần thứ 84 của ông. Giữa các đoàn khách nườm nượp ra vào, đa phần là bộ đội lính tráng, ông vui vẻ hồ hởi bắt tay từng người, nhận của học trò Nguyễn Thuỵ Ứng (dịch giả Sông Đông êm đềm 4 tập), một bức tranh khổ rộng chỉ duy nhất một chữ thọ với 1.000 kiểu viết khác nhau. Cuối cùng, dường như không nén nổi xúc động trước sự quan tâm đặc biệt của mọi người, ông cất giọng trầm, đục kể lại:
- Tôi đã tưởng sẽ đem những điều bí mật của mình xuống mồ, nhưng tôi không ngờ trời cho tôi thọ đến vậy. Vì thế, trong lần sinh nhật lần thứ 84 này, tôi xin tiết lộ 4 điều bí mật trong cuộc đời tôi để anh em biết. Lập tức cả căn phòng lặng phắc, nghe rõ cả tiếng gió lao xao trên các tàu lá dừa ngoài vườn.
Điều thứ nhất - ông kể: Năm 1971, còn gọi là chiến dịch đỏ lửa tại thành cổ Quảng Trị. Khi đó, tôi vẫn lấy phương châm tiến công như mọi khi: "Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy yếu tố bất ngờ để tạo thế chủ động, giúp địch trở tay không kịp". Cứ dùng chiến tranh du kích tiêu diệt hàng ngày, hàng giờ, hết đêm này sang đêm khác để địch suy tổn lực lượng rồi đánh cấp tập một trận giải phóng dứt điểm thành cổ như mọi trận khác vẫn diễn ra từ trước đến nay. Không ngờ quan điểm của tôi bị Ba Duẩn (tức Lê Duẩn) bác bỏ không thương tiếc. Giữa hội nghị, anh Ba đập tay xuống bàn, quát: - "Thế là giảm sút ý chí chiến đấu. Phải cho địch biết thế nào là quả đấm chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vì vậy tôi yêu cầu: Cứ đánh vỗ mặt thành cổ Quảng Trị cho tôi. Sống chết, đúng sai tôi chịu trách nhiệm".
Kết quả trong suốt 60 ngày đêm của chiến dịch thành cổ, cứ 5 giờ 30 phút chiều, khi trời bắt đầu nhập nhoạng tối, một đại đội ta có mặt ở bên này bờ sông Thạch Hãn, lặng lẽ bơi sang để đánh vỗ mặt thành, 8 giờ 30 phút bơi trở về chỉ còn được mươi, mười lăm người. Lần nhiều nhất là 35 đồng chí (cả lành lặn, cả bị thương). Lần ít chỉ còn 5, 7 đồng chí thương tích đầy người, thậm chí có lần cả một khúc sông, không một bóng người, chỉ có tiếng gió hú ghê rợn như những âm hồn vọng vang khắp đáy sông. Như vậy, trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (khoảng 135 đồng chí), và 60 ngày đêm tấn công thành cổ cũng là 60 ngày đêm ta mất gần một vạn người, biến thành cổ Quảng Trị thành nấm mồ chôn thanh niên, sinh viên trí thức Việt Nam.
Thứ hai, vươn cao cái cổ gầy, phát ra giọng nói nửa như kiêu hãnh, nửa như nuối tiếc, khuôn mặt đẫm vẻ u hoài, bí ẩn, ông tiếp: - Lẽ ra ta không có được chiến thắng lẫy lừng là giải phóng Miền Nam, chỉ vì sau hội nghị Paris 1973, anh Ba Duẩn ra chỉ thị ngừng tất cả các cuộc tấn công lại, chỉ tập trung vào củng cố lực lượng, tăng gia sản xuất, nuôi quân cho tốt rồi sau vài năm phát triển vượt bậc sẽ đánh một trận tơi bời, dứt điểm, không để địch có cơ ngóc đầu phản công như hồi tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968 nữa.
Khi kế hoạch đưa ra, rất nhiều anh em, tướng tá cũng như lãnh đạo đơn vị không hài lòng, nhưng là lệnh của cấp trên nên buộc phải chấp hành, không ngờ, phía dưới, cũng như vùng sâu vùng xa, lực lượng dân quân, du kích, bộ đội địa phương, phần đang phát triển mạnh nên không chịu ngừng kế hoạch luyện tập, tấn công lại, phần vì không nhận được lệnh trên nên cứ âm thầm chuẩn bị. Thế là như đứa bé đang tuổi ăn tuổi lớn, không có cách gì ngừng sự phát triển lại được nên đành để vậy. Nhờ đó ta có được chiến thằng vĩ đại vào 4-1975.
Ngừng lời, đưa mắt nhìn khắp hàng quân, chiến sĩ, học trò một thời đầy tin cẩn, ông lên tiếng bằng chất giọng khàn, đục, nghiêm trang:
Thứ 3, khi biết sớm muộn gì ta cũng tấn công vào dinh độc lập, chiến thắng dứt điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ dằng dặc 21 năm, tôi có đưa ra đề nghị:
Ta đánh giặc để thống nhất hai miền, để làm theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: "Hễ còn một tên xâm lược trên bờ cõi Việt Nam, phải quét sạch nó đi". Riêng các phái đoàn ngoại giao của Mỹ cũng như đại sứ quán Mỹ đóng tại Việt Nam , ta nên tôn trọng vì họ là những người chứng kiến cuộc chiến tranh này và họ sẽ ghi nhận thành tích của chúng ta, không nên đối xử thô bạo với họ như kẻ thù, không ngờ anh Ba Duẩn trợn mắt quát:
Không được, phải đánh chết những con chó, kể cả khi nó đã rơi xuống nước. Tất cả bọn Mỹ, dù là cán bộ ngoại giao hay Lầu Năm Góc đều là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Vì thế, phải chiến đấu quét sạch chúng đi, không để một tên xâm lược nào trên mảnh đất chúng ta.
Quá khứ đè nặng trên đôi chân của tuổi 84, đang nói, ông ngồi phịch xuống ghế, cạnh bà Hà (vợ ông) gương mặt đẫm vẻ hoang mang ngơ ngác, cũng như thoáng chút bần thần;
- Cũng vì quen với tiền lệ ở các quốc gia khác, quân đội cứ đánh, còn cán bộ ngoại giao đóng vai trò quan sát, không hề bị chi phối bởi cục diện giữa hai trận tuyến, kẻ thắng, người thua, nên đại sứ quán Mỹ, các phóng viên mặt trận, vẫn ung dung tự tại trước cuộc tấn công ngày một ồ ạt và thế thắng như chẻ tre của ta... Không ngờ, khi lệnh anh Ba Duẩn ban ra, tất cả đang từ thế chủ động thành bị động, phải lập tức thu xếp đồ đoàn ra về trước khi Sài Gòn giải phóng. Chính vì thế cảnh vô cùng hỗn loạn trong các ngày 28, 29, 30/4/75 xảy ra. Hàng chục máy bay lên thẳng bị hàng trăm người đeo bám, để lại một dấu ấn nhục nhã trong lịch sử nước Mỹ. Ngay sau đó ta phải trả một giá qúa đắt cho chính sách cực đoan của mình. Hiếu thắng một giây, kiêu ngạo một giờ mà đổi bằng cái giá của 20 năm cấm vận. Cả nước vật lộn trong mưu sinh, khốn khó của thời hậu chiến.
Giọng ông cất cao lên một nấc, trở lại tư thế nhìn thẳng, ông đưa bàn tay khô héo, chi chít các vết đồi mồi, lên cổ, lên ngực, cố giữ một cơn ho:
Thứ 4, ngay từ cuối năm 1979, khi biết Pol-Pot gây ra hoạ diệt chủng ở Căm pu Chia, tôi đã phát biểu trong cuộc họp: "Trong hai thằng Lào và Căm pu Chia , chỉ có thằng Lào là anh em với mình thôi, còn thằng Căm pu Chia sẽ phản lại Việt Nam mình đó, không nên đưa quân sang giúp nó, khi chưa có sự lên tiếng của quốc tế". Nhưng anh Ba Duẩn nhận định: Việt, Lào, Căm pu Chia là 3 nước láng giềng, như 3 thế chân kiềng kê trên mảnh đất Đông Dương nên phải giúp nó, sau đó sẽ có kế hoạch thôn tính nó sau... Kết quả, sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, dân tộc ta đã mất cả triệu người con ưu tú, nay thanh niên trai tráng, rường cột quốc gia lại bị điều động bắt lính vô tội vạ để sang chiến đấu tại chiến trường K. Bởi cùng học thầy Trung Quốc nên lối đánh của chúng rất khó chơi, cũng thiên về quấy rối du kích, đánh không theo bài bản nào, chỉ nghi binh, đánh cấp tập rồi rút lui, đồng thời rải mìn vô tội vạ, khiến cho lực lượng ta thương vong nhiều không kể xiết. Tôi nhớ lần tới một trạm phẫu trung đoàn. Trung bình một ngày anh em bác sĩ ta phải cưa 40 chân chiến sĩ do bị mìn cài, mìn đặt...Trong điều kiện thuốc men thiếu thốn, thuốc giảm đau cũng như gây mê đều hạn chế, anh em kêu khóc như ri. Chỉ sau một tuần là số chân bị cưa xếp cao như núi, hơn hẳn đầu người một tầm tay với. Mùi thịt cháy, mùi máu tanh, mùi thối rữa toả ra khắp vùng, đi cách xa trạm cả 7,8 km rồi mà mùi hôi thối vẫn xông lên nồng nặc..."
Ngay sau đó, bà Đặng thị Hà - con gái ông Đặng Thai Mai (nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi của Việt Nam) đứng dậy, kéo ông ra khỏi khu vực đặt bàn ghế tiếp khách, và yêu cầu chúng tôi về để ông nghỉ vì chỉ tính tiếp mỗi đoàn 15 phút hay nửa tiếng, thì cả ngày ông đã phải tiếp mấy chục đoàn rồi. Và bà với tư cách là người vợ chăm sóc sức khoẻ của chồng, phải kéo ông ra kịp thời trước cả rừng câu hỏi của khách, vì thế giọng bà, một chất giọng đẹp, nhưng đầy quyền uy, không phải của một vị chủ nhà mà là "tư lệnh trưởng" đuổi khéo tất cả những ai còn muốn ở lại làm phiền ông.
Ngày 25-8-2008, khi ông tròn 97 tuổi, cũng rất nhiều phái đoàn đến thăm ông, song lúc này ông đã bị ốm rất nặng, vừa bị ho, sốt, vừa đau phổi, khó thở. Ông không ở nhà trên đường Hoàng Diệu mà nằm dưỡng bệnh ở nhà nghỉ bên Hồ Tây. Sau đó được đưa vào Quân Y Viện 108, Khoa A1, dành riêng cho Bộ Chính Trị và các nhân vật lãnh đạo đặc biệt. Hiện ông vẫn phải thở bình oxy. Với độ tuổi 97, ngược hẳn với tuổi cha già Hồ Chí Minh khi về với các bậc tiền bối Mác Lê (79) Người ta đã cho rằng ông sẽ khó lòng vượt qua được... song một lần nữa trước cái ác, cái xấu ông vẫn tiếp tục "cài số lùi", và vẫn cách xa tử thần cả một tầm tay với.
Hiện tại Hà Nội đang trong đợt rét đậm, rét hại, nhiệt độ ngoài trời thường xuyên là 8 độC, nhiều nơi dưới 3 độ. Không biết "hóa thạch sống" như ông còn tồn tại được bao lâu trong điều kiện giá rét, khắc nghiệt này? Và khi hóa thạch mất đi, đồng nghĩa với việc Việt Nam mất theo cả một kho tàng bí mật về tầng lớp lãnh đạo cũ mà ông không kịp tiết lộ hoặc vì bạc nhược ông không muốn, hay không dám tiết lộ. Đầu xuân năm mới hy vọng những ai từng được tướng Giáp tiết lộ những điều bí mật của đời mình, xin kể ra cho mọi người cùng biết...

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2009

No09: Tự hào dân tộc?

Lời mở đầu:
Đây là nhận định và ý kiến cá nhân của người viết mà thôi. Đúng hay sai còn tùy hòan cảnh, kinh nghiệm và sự thẩm định của mỗi đọc gỉa. TVG.
Cụ Trần Trọng Kim, một nhà giáo lỗi lạc, một học giả danh tiếng và cũng là vị Thủ Tướng đầu tiên của Việt Nam, đã viết trong bộ sử “Việt Nam Sử Lược” (1925) về tính tình, tư cách của người Việt Nam (nguyên văn – trang 7 tiểu mục “Người Việt Nam”) như sau:
“Về đàng trí tuệ và tính tình thì người Việt nam có cả tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, làm năm Đạo Thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà khi đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.
Tâm địa nông nổi hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng Nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.”
Những lời nhận định về người Việt này đã cũ trên 80 năm mà chưa thấy ai lên tiếng phê phán Cụ là “không chính xác,” “sai lầm,” “thiếu công minh,” “thiên vị” hay “sỉ nhục dân tộc!” Nhiều người còn cho là Cụ có nhiệt tâm muốn thành thật vạch ra những cái tốt và cái xấu của người mình để hậu sinh học hỏi, sửa đổi; hầu xây dựng một tương lai trong sáng và tiến bộ cho đất nuớc.
Đất nước vừa trải qua những biến cố nghiêm trọng, lòng người hoang mang, ngờ vực, suy tư… Người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngọai đã có rất nhiều băn khoăn nan giải về vấn đề “mình phải tự nghĩ về mình thế nào?” hoặc “mình nên trả lời thế nào về dân tộc mình trong trường hợp có người ngọai quốc hỏi?” Trong bài nhận định này, tôi xin phép theo bước chân của cụ Trần Trọng Kim để đóng góp một vài ý kiến cá nhân có thể còn rất phiến diện. Rất mong được quí vị đọc gỉa chỉ giáo thêm.
Trong thời buổi này, người Việt, chẳng cần phải tự hào mà cũng chẳng cần phải tự ti. Khi được hỏi mình cứ trả lời cho đúng, đầy đủ, vừa phải, không dư thừa … là được rồi. Chối bỏ nguồn gốc của mình, hay vênh vang ngạo mạn đều hồ đồ cả - Cứ nói sự thật. Việt Nam cũng như mọi dân tộc khác, cũng có cái hay cái đẹp, cũng có cái xấu xa. Tự hào, hay tự ti, là ở ngay chính con người mình. Nếu mình thật sự giỏi thì chẳng cần biết mình là dân tộc nào, thiên hạ đều phục.
Người Việt chẳng có gì mà phải tự ti. Thế giới còn có nhiều nước tệ hại, kinh sợ hơn Việt Nam nhiều: cướp bóc giữa ban ngày, đĩ điếm đứng đầy đường, dân đen bị bóc lột hành hạ tàn nhẫn hơn, chính phủ độc tài cai trị sắt máu hơn, xã hội bị phân hoá khủng khiếp hơn, tham nhũng ở nhiều nước còn tàn chi hơn… (tôi không tiện liệt kê tên các quốc gia này vì vấn đề tế nhị!) Tóm lại, chẳng có lý do gì phải tự ti mặc cảm.
Người Việt Nam cũng chẳng có gì quá đáng để tự hào. Tự hào thế nào được khi quốc gia bị bêu riếu mọi nơi là lạc hậu. Tự hào thế nào được khi quốc tế liệt kê Việt Nam trong danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo tận mạng, tham nhũng như ranh, dân trí đội sổ, dân chủ có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời… Chắc chắn sẽ có người sẽ giận dữ lên tiếng nhắc nhở tôi về lịch sử vẻ vang của Việt Nam, cái tài quân sự của người Việt, đánh thắng đế quốc Mông cổ; và mới đây đánh thắng luôn một lúc 3 đế quốc. Trong vấn để chiến thắng trong lịch sử này, tôi xin dẫn một câu chuyện điển hình về đại sứ VC tại Thái Lan mới đây để quí vi suy gẫm. Đại sứ VC đã trình bày một cách tự hào về Việt nam với Quốc Vượng Thái Lan là:
”Nước Việt Nam chúng tôi rất tự hào vì đã đánh thắng 3 đế quốc.”
Quốc Vương Thái Lan điềm đạm trả lời đại sứ VC là:
“Nước Thái lan chúng tôi cũng rất tự hào vì không phải đánh nhau với một đế quốc nào cả!” (nên biết Thái Lan cũng không phải đánh nhau với quân Mông cổ!)
Lịch sử Việt nam hiện nay đã được viết dài dòng về công cuộc đấu tranh chống Pháp dành độc lập cho 25 (?) triệu dân Việt. Kết quả đưa đến việc thực dân Pháp đầu hàng sau trận Điện Biên Phủ 1954. Đồng thời, lịch sử thế giới cũng ghi lại là Thánh Gandhi của Ấn độ, dành lại độc lập cho 600 triệu dân Ấn độ mà không phải đổ một giọt máu nào. Ngay như thiên tài quân sự Tổn Tử (trong “Binh pháp Tôn Tử,” trang 4, Thiên thứ 3 “Mưu Công”) đã định nghĩa thế nào là “Quân sự giỏi” như sau (nguyên văn):
“Đại phàm cái phép dụng binh, làm cho cả nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó là kém hơn... Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.
Cho nên thượng sách trong việc dùng binh là lấy mưu lược để thắng địch, kế đó là thắng địch bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh thắng địch, hạ sách là tấn công thành trì… Cho nên người giỏi dụng binh, thắng được địch quân mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc mà không cần đánh lâu, nhất định phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn dành được thắng lợi hoàn toàn.”
Như vậy, “thắng mà không phải đổ một giọt máu nào!” mới gọi là giỏi. Chứ còn phải nướng vài triệu nhân mạng để giải phóng vài chục triệu nhân mạng thì không biết phải nói hay ở chỗ nào?… Cũng nên biết thêm, thực dân Pháp mặc dù không bị thua trận ở Algeria, nhưng thực dân Pháp đã phải tự động trả độc lập cho Algeria (hoàn cảnh quốc gia này bị Pháp đô hộ giống y hệt như hòan cảnh của Việt Nam) vì chính sách thực dân đã bị xem là lỗi thời, bị quốc tế phỉ báng…
Hiển nhiên, nhiều người ngoại quốc đã có sẵn những thành kiến về người Á châu nói chung (và người Việt Nam nói riêng) là hay ăn cắp vặt, lười biếng, ở bẩn thiếu vệ sinh… thì mình cũng giải thích với họ là dân tộc nào cũng có kẻ thế này người thế khác; Hoặc gặp kẻ tán tụng dân tộc mình (phần lớn vì vấn đề thông lệ giao tế, không biết họ có thành thật hay không?) như là: “À! Anh thuộc về dân tộc vẻ vang nhất của thời đại…” Thì cũng từ tốn cố giải thích với họ là bây giờ là thế kỷ 21 rồi, những chuyện đánh nhau không cần thiết đó đã xưa rồi, bỏ qua đi tám, lập lại cũng chẳng có ích lợi gì. Những “vẻ vang” đó không thể tự nhiên mang lại no ấm, hạnh phúc hơn cho dân tộc…
Hãy nghe một nữ sinh viên Việt Nam du học (bây giờ còn được gọi là du sinh) ở Singapore (Tân Gia Ba) đã tâm sự như sau:
“Em chả dám bàn về chính chị chính em gì hết. Bởi vì bố mẹ bảo em là con gái không nên xen vào chuyện làng chuyện nước!
Năm 2001, cả giòng họ nhà em chắt mót lắm mới đủ tiền cho em đi Singapore du học tự túc. Thời gian mới qua em rất bất ngờ vì người dân bên đó hòa đồng và mến khách còn hơn cả cái kiểu tiếp khách của các bác trong các chương trình du lịch bên mình nhiều lắm. Em có một cô bạn gái người Singapore bên đấy. Hôm nọ, cô ấy rủ em đến nhà mấy người bạn Singapore chơi. Cô ấy lại dặn em là ‘khi người ta hỏi thì đừng bảo là người Việt Nam nhá!’ Em ức lắm và vì tự ái dân tộc nữa nên đến lúc mấy người kia hỏi em cứ nghênh mặt lên và trả lời ngay: ‘I am Vietnamese.’ Úi giời ơi! Sau câu trả lời ấy thái độ của cả nhóm thay đổi ngay. Cả buổi chẳng có ma nào hỏi han gì đến em câu nào nữa. Khi về cô bạn kia mới giải thích cho biết phụ nữ Singapore rất có ác cảm với phụ nữ Việt Nam bởi vì 80% phụ nữ Việt Nam qua Singapore đều làm… hết. Họ không muốn thân với em vì sợ em sẽ cướp chồng họ.
Đấy! Các bác cho em lời khuyên là có nên nghênh mặt bảo mình là người Việt Nam nữa không???”
Chúng ta nên buồn năm phút!! Hay nên tự hào năm phút?!
Nghiêm chỉnh mà nói cho nhau nghe, hay để dạy dỗ con cái thôi… là Việt Nam có nhiều cái rất đẹp và đáng tự hào. Bởi vì một cô gái xấu xí đến đâu, nếu nhìn kỹ vẫn tìm thấy một vài nét đặc biệt. Chẳng hạn cái thông minh cũng có thể làm mờ các khuyết điểm khác đi. Đất nước không thể vì một nền kinh tế chậm tiến, lạc hậu, nghèo đói, bị đè đầu cưỡi cổ triền miên mà người dân phải cho rằng mình đành chịu đựng một sự nhục nhã. Lịch sử Việt Nam dài hơn 4000 năm thì 60 hay 100 năm đâu có nghĩa lý gì. Nếu phải so sánh với các nước khác trên thế giới thì vấn đề lạc hậu, xuống dốc như thế này phải làm các ông lãnh đạo cảm thấy xấu họ mới đúng. Người dân đen không có gì phải xấu hổ cả. Kể cả cô em gái du học ở Singapore!
Ở hòan cảnh nào cũng vậy. Không ai muốn vạch áo cho người xem lưng. Nhưng phải nói cho nhau nghe là ở Việt Nam hiện nay, lãnh đạo không hề để ý gì đến văn hóa Việt Nam; cho nên nền văn hóa cứ thế mà tụt dốc phi mã. Các lãnh tụ “siêu việt,” “kiệt xuất” hoang tưởng chỉ có một cách, một phương thức một bài duy nhất dùng để phô trương, tự hào về Việt Nam là “chiến thắng vinh quang;” ngòai ra không có một thực chất hay một khả năng nào có thể dùng để xây dựng, phát triển dân giầu nước mạnh được. Nhật Bản sau 30 năm bại trận, từ đống tro tàn, không tài nguyên… trở thành một siêu cường của thế giới. Việt Nam sau 30 năm chiến thắng vinh quang, với tài nguyên dồi dào… vẫn không làm nổi một cái đinh ốc cho ra hồn. Hoang tưởng là ở chỗ đó.
Ở ngọai quốc, khi nói đến Việt Nam là người ta nghĩ ngay đến các vấn đề “nghèo,” “cộng sản,” “vòng lẩn quẩn cộng sản - nghèo…” tòan những cái “negative values;” chứ chẳng thấy “vinh quang” ở đâu cả? … Không hiểu dân tộc Việt Nam mắc nợ gì với CS mà CS cứ đeo dính dân tộc mình hoài vậy? (nên biết trên thế giới có trên 193 quốc gia – kể cả Vatican City - nhưng chỉ còn vỏn vẹn có 4 dân tộc “anh hùng” vẫn còn mắc nợ CS thôi!?)
Mỗi người có quan điểm chiến lược khác nhau; Có mức độ kỳ vọng khác nhau. Nhưng tôi nhìn nhận là người Việt có một số ưu điểm như sau:
1- Chịu được gian khổ (bị đô hộ trên 1000 năm vẫn sống; ăn “bobo,” khoai sắn độn dài dài vẫn sống; bị tù đày dài dài vẫn sống; nhịn đói 10 - 20 ngày trên biển vẫn sống, …)
2- Tương đối dễ hòa và hội nhập với nền văn hóa dị biệt của nước người
3- Tương đối chăm chỉ so với một số dân tộc khác
4- Tương đối thông minh (không ngu quá!)
Chỉ có cái điểm “chịu đựng” là coi bộ nổi bật. Ba điểm còn lại cũng còn lờ mờ, khó nói, không rõ cho lắm! Nhưng mà dân tộc nào chả thế! Không chịu đựng được thì đã họ tự sát hết từ lâu rồi còn gì. Mà đâu có thấy dân tộc nào tự tử ào ào một lúc chỉ vì khổ quá đâu?
Nói về “văn hoá lưu vong” dường như chỉ có Do thái và Việt Nam có. Nhưng so sánh Do thái và Việt nam có vẻ không công bằng. Dân Do thái bỏ đất đai ra đi vì bị các áp lực tôn giáo (Hồi giáo) và chủng tộc (Ả rập) ở Địa trung hải quá mạnh. Nếu ở lại họ sẽ bị tiêu diệt, bị xóa sổ. Dân Việt Nam bỏ đất nước ra đi bởi vì chính trị của người chính người Việt Nam chứ không phải vì áp lực của lân bang (hãy xem lại lịch sử thấy là dù Tầu có đánh mạnh đến đâu đi nữa, thì người Việt vẫn bám lấy đất và chiến đấu đến cùng!) Cái giống nhau là dân Do thái và dân Việt sống rải rác ở nhiều quốc gia Âu châu vẫn nhất là ở Hoa kỳ. Bây giờ hãy nhìn dân Do thái và dân Việt lưu vòng trên đất Mỹ. Chúng ta tìm thấy rất nhiều chuyện để học từ dân Do thái.
Người Do thái ở Mỹ không phải là những người “…bài bác nhạo chế nhau… thường thì nhút nhát… hay khiếp sợ… tâm địa nông nổi hay làm liều… không kiên nhẫn… hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài… hiếu danh vọng… thích chơi bời, mê cờ bạc… Kiêu ngạo và hay nói khoác… (nguyên văn lời của cụ Trần Trọng Kim đã viết ở phần trên!)” như dân Việt lưu vong. Ngược lại, dân Do thái (lưu vong) gián tiếp chỉ huy mọi chính sách của Mỹ: người Do thái gần như hoàn toàn kiểm soát nhiều lãnh vực quan trọng nhất trong sinh hoạt kinh tế (nhà băng, thị trường chứng khóan..) và khoa học (giáo sư đại học, khoa học khảo cứu gia, bác học…) và quan trọng nhất là hoàn toàn kiểm soát “media” (truyền thông, báo chí, kỹ nghệ phim ảnh, truyền hình...) ở Hoa Kỳ, Chỉ riêng với vấn để truyền thông (“media”) này, người Do thái đã dùng nó để hướng dư luận và quan điểm của dân Mỹ và đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách lãnh đạo đối nội cũng như đối ngoại của Hoa kỳ theo các chiều hướng có lợi cho quốc gia Do thái. Vì vậy, Do thái chỉ có khoảng 3 triệu dân vẫn đánh thắng một cách rất dễ dàng các liên minh quân sự của Ả Rập có đến trên 100 triệu! Người Do thái lưu vong không cần phải lên tiếng tự hào về dòng giống Do thái của họ. Các dân tộc khác sống trên đất Mỹ phải tự nhiên nể và sợ họ là đằng khác!
Dân Việt lưu vong không có cái gì phải xấu hổ về sự lưu vong của mình. Có xấu hổ hay không là những các nỗ lực khoe khang hoang tưởng, phỉ báng lẫn nhau, ném bùn vào mặt nhau, đâm sau lưng nhau ở hải ngoại. Dân Việt Nam lưu vong mình nên cố gắng nhìn bài học lưu vong của dân Do thái để xây dựng một niềm tự hào, một sức mạnh lưu vong riêng cho chính mình.
Lúc nào cũng ra rả chiến thắng này, chiến thắng nọ; nhưng nhìn lại xem ai? phe nào? là những người thực sự chịu đau khổ. Thực tế cho thấy “kẻ thua” thì ngoài một số ít chết (tỉ lệ số chết quá nhỏ so với dân và quân Việt bị chết!) chẳng thương tổn gì gọi là quá đáng cả. Họ vẫn là cường quốc, vẫn mạnh giỏi. Còn nước Việt Nam dân số đứng thứ 13 trên thế giới, với diện tích thuộc hàng trung vẫn bị coi là “nhược tiểu” (hãy xem nước Đức với diện tích và dân số như Việt Nam mà không bao giờ bị xem là nhược tiểu!) mà lại có về hài lòng! Tự sướng tự rên! Tự hào! Không biết lấy ở đâu ra? Tại sao chúng ta không làm cho mình thật mạnh để không nước nào dám xâm lấn, dám xâm lăng, dám cai trị chúng ta? Chúng ta tự hào thông minh, nhưng đó chỉ là cái thông minh vặt. Chúng ta dùng những “thành tích” nổi bật của một số nhỏ người Việt ở nước ngoài để cho rằng Việt Nam giỏi, nhưng đó chỉ là cái “tâm lý nhược tiểu.” Chúng ta phải dùng những cái “không phải của mình” để “tự khen;” đem những lời khen “ngọai giao” của người ngoại quốc để “tự thỏa mãn” cái tâm lý nhược tiểu của mình. Những người được đào tạo tài giỏi ở nước ngoài là nhờ “tài của nước ngoài” chứ không phải cái “tài của nước mình,” chưa đáng được dùng để gọi là “tự hào dân tộc.” Phải chờ đến lúc có du sinh ngọai quốc nài nỉ, nộp đơn xin được đến “du học” ở Việt Nam để học cái tài của nước Việt mình thì mới tính đến chuyện “tự hào” cũng chưa muộn!
Nếu chúng ta không suy gẫm kỹ lưỡng và đánh giá cho đúng con người mình, không dám nhìn thẳng vào sự yếu kém chung của mình, mà chỉ nhìn vào một vài “thành tích nổi bật lẻ tẻ” rồi tự hào, từ mãn thì đến muôn năm nữa vẫn không thoát ra khỏi cái thân phận nhược tiểu. Như vậy có một vấn để quan trọng thấy rõ không chối cãi được là vấn đề “lãnh đạo” (kể cả lọai lãnh đạo “sắt máu” như Hitler của Đức quốc xã!). Lãnh đạo sáng suốt sẽ đưa đất nước vượt lên các yếu kém lạc hậu, các chèn ép của quốc tế. Thật là buồn, nếu chưa muốn nói là một sự sỉ nhục phải là công dân dưới chế độ CS, đã và đang phải chấp nhận những kẻ không ra gì lãnh đạo mình. Đó là cái lãnh đạo thiếu đạo đức, lãnh đạo đang hủy họai đạo đức, đang hủy họai truyền thống tốt lành của xã hội Việt Nam; lãnh đạo dốt nát, độc ác, lãnh đạo lừa dối hành hạ dân lành… Ở Việt Nam bây giờ sự dối trả là căn bản cho mọi sinh hoạt của xã hội. Dối trá từ việc học hành, thi cử, việc làm, sản xuất cho đến thái độ cư xử với những người chung quanh… với một đất nước như vậy thì chỉ còn có các bác thật “anh hùng” và thật “kiệt xuất” mới dám có “can đảm” cảm thấy tự hào vì nó.
Cái óai oăm ở đây là hình như là người dân Việt Nam ở trong nước chưa cảm thấy có nhu cầu cần thiết để thay đổi chế độ và đòi hỏi thêm quyền chính trị. Bởi lẽ, như đã nói ở trên, người Việt Nam mình giỏi “chịu đựng” mà! Ừ thì chịu đựng nghèo, chịu đựng đói khổ đã đành; nay thậm chí còn giỏi chịu đựng cả sự sỉ nhục! Chưa có nhu cầu thay đổi, thì đào đâu ra động lực thay đổi. Không có động lực thì cũng kể như cứ việc thong thả nằm yên theo kiểu “con rùa lật ngửa” cho nó được việc! Cho qua ngày qua tháng! Muốn đi đến chỗ “có động lực” thì phải có một bộ máy giáo dục, thông tin hữu hiệu để giải thích cho mọi người hiểu tại sao cần phải có sự thay đổi (Nên biết “Lãnh đạo cũng giống như tã lót. Nó cần phải được thay thường xuyên – vì chung một lý do!) và thay đổi sẽ đem lại cho họ và con cháu họ những ích lợi gì. Nói tóm lại, đây là một chuyện to tát phải làm. Rất tiếc công việc này còn to tát hơn vì CS đã biến một khối 83 triệu người Việt thành mù, điếc và câm từ khuya rồi. Người có can đảm đi khai sáng họ sẽ bị lên án là “phản động!” Người muốn đi chữa bệnh nan y (Mù câm và điếc) sẽ phải trả giá rất đất như bị tù đày, bị bao vây an sinh… Thành ra, chỉ còn một giải pháp tiêu cực là đợi cho tham nhũng đến cùng cực, sự suy sụp đạo đức xã hội đến tột đỉnh thì CS sẽ tự nó hủy diệt nó! Cái giá của sự chờ đợi này có thể con đắt hơn mấy lần đi tù, bị bao vây kinh tế mà rất ít người biết…
Đôi khi mình cũng cần soi gương, không phải để tự ti hay tự hào, mà để tự đặt câu hỏi cho mình. Tự hỏi mình là tại sao người Việt thông minh mà dân tộc mình vẫn phải chịu nghèo đói; tại sao người Việt chăm chỉ mà vẫn còn người Việt đi làm thuê làm mướn với lương rẻ mạt ở những quốc gia cũng chẳng hơn Việt Nam bao nhiêu như Mã lai, Ba lan, Hung gia lợi…; Có lẽ vì vì chúng ta không dám chấp nhận sự thật, vẫn ngủ quên trên chiến thắng; vẫn coi thường những dân tộc khác mà không biết là họ khôn ngoan hơn mình.
Đôi khi cũng nên nhìn vào gương để thấy mình còn may mắn vì nước Việt Nam mình ít ra chưa biến thành một Tây tạng hay một Đài loan thứ hai. Cứ đem cái quá khứ vẻ vang của dân tộc ra mà tự hào thì cái hiện tại chỉ càng làm cho mình đau lòng thêm. Hãy nhìn các anh hùng dân tộc đã đứng lên chiến đấu dành độc lập cho đất nước. Nếu chỉ mấy ông ấy đứng lên một mình không thôi thì có lẽ đã bị Tầu hay Tây (hay Mỹ) nó mượn chỗ đội nón từ khuya rồi. Làm quái gì mà có được “chiến tích thần kỳ.” Các ông ấy phải cần có sự hy sinh vô bờ vô bến của dân ngu khu đen nữa chứ!!! Lãnh đạo đến; rồi lãnh đạo lại đi (hoặc bị tiêu diệt!) Nhưng dân thì muôn đời vẫn còn. Cổ nhân đã nói : “Quân nhất thời; Dân vạn đại!” là vậy. Dân tộc và nước Việt Nam đã bị vùi dập nhiều rồi; không đáng phải bị lãnh đạo (bất xứng) vùi dập thêm.
Lời Kết:
Trước khi muốn chạy, thì phải tập đi cái đã. Dù có muốn hay không, dù đã sửa sắc đẹp tòan diện rồi, mình cũng vẫn là người Việt Nam, điều đó không thể chối cãi được. Câu hỏi đơn giản là mình có tự hào về bản thân mình không? Nếu mình không có tự hào cá nhân thì cũng chưa nên bàn đến tự hào dân tộc.
Tự hào thì có nhiều thứ lắm. Lịch sử liệt kê ra hai loại tự hào là
- Thành quả quân sự (chiến tranh - Chiến tranh lại được chia ra làm hai loại: chiến tranh tự vệ và chiến tranh xâm lược mà ông cha mình gọi là “mở màng bỏ cõi!”).
Oái oăm là cả người tự vệ lẫn người xâm lược cùng tự hào một lượt. Người xâm lược tự hào về sức mạnh. Xâm lược thành công nhanh chóng trong một thời gian ngắn được xem như một niềm tự hào, một chiến tích vẻ vang… Người đấu tranh tự vệ giữ nước tự hào về sự kiên cường, bất khuất, anh dũng.
- Thành qủa xây dựng: Các nước giàu mạnh tân tiến ngoài cái tự hào chiến tranh họ còn tự hào về các công trình xây dựng lớn lao, nền kinh tế khoa học kỹ thuật vượt bực góp phần vào sự phát triển chung của thế giới.
Nhưng thật buồn là Việt Nam ta, cho đến nay chỉ có một cái tự hào về chiến tranh thôi! Tự hào chiến tranh cuối cùng là chiến thắng trong cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước!” Cái chiến tranh này xẩy ra đúng vào lúc thế giới đang ở giai đoạn chiến tranh lạnh (giữa “Tây Phương và Nga sô” hay là “Thế giới Tự do và Cộng Sản quốc tế”) thì chỉ riêng có một mình Việt Nam là nhào đầu vào chiến tranh nóng thôi! Việt Nam thắng trận có nên tự hào không? Có lẽ có! Nhưng đó là tự hào của người Cộng sản chứ không phải là tự hào của “Tổ quốc Việt Nam.”
“Giặc Mỹ” đến giúp Nam Hàn tự do đánh nhau với CS Bắc Hàn trước khi có chiến tranh nóng ở Việt Nam. Bây giờ là năm 2007, chiến tranh nóng Việt Nam đã nguội ngơ rồi! Dân tộc Việt Nam đã trở thành “dân tộc anh hùng rồi!” Bắc Hàn và Nam Hàn đã đồng ý chia lãnh thổ từ lâu rồi; “Đế quốc Mỹ” vẩn còn có quân đội đóng ở Nam Hàn. Đã có ai thấy là “đế quốc Mỹ” cướp một tấc đất nào của Nam Hàn không? “Đế quốc Mỹ” còn ở đó giúp Nam Hàn tự do phát triển thành một sức mạnh kinh tế giầu có nhất ở Á châu mà nhiều con gái nước Việt anh hùng muốn sang làm cô dâu! (Không thấy có cô gái Việt Nam nào muốn sang làm cô dâu ở Bắc Hàn anh hùng cả! Lạ nhỉ!!!)
Trần Văn Giang

No8: Bài phát biểu tại cuộc họp chi bộ

Gần đây, Bộ Văn Hoá đưa đề nghị chấn chỉnh việc công chức viết hồi kí hay tự truyện. Đề nghị này mang nhiều ý nghĩa lắm, nhất là trong tình hình phe phái trong nội bộ đảng CSVN hiện nay đang tìm cách "hạ" nhau! Hồi kí của một số quan chức cộng sản cũng không ra ngoài thông lệ ấy đâu. Dưới đây là nguyên văn bài phát biểu của ông ĐDT tại cuộc họp chi bộ về cuốn hồi kí Làm người là khó. Bài phát biểu trong vòng chi bộ đảng của ông ĐDT về tập hồi kí của mình hẳn nhiên là soi sáng thêm về tính cách một số con người có thật trong một thời kì có thật. Có lẽ vì thế mà cần "chấn chỉnh" việc viết hồi kí là thế chăng? Để khỏi tiết lộ "bí mật quốc gia" !
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 20051. Mục đích tôi viết cuốn Hồi kí là nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng đất nước và xây dựng con người, nhất là con người của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó mang tính triết học, nên mới đặt tên Hồi kí là Làm Người Là Khó.Để đạt được mục đích trên, thông qua cuộc đời hoạt động của mình trong gần 60 năm, tôi đã chọn ra những sự việc gắn liền với phong trào cách mạng của quần chúng và cá nhân tôi, với nhân dân và với những đồng chí cán bộ cùng hoạt động cách mạng.Người xưa đã dạy: "Nhân vô thập toàn" từ những người dân bình thường cho đến vĩ nhân, không ai có thể là con người trọn vẹn, hoàn chỉnh mà phải thông qua học tập, rèn luyện suốt đời, mới mong giảm thiểu được những sai sót, khuyết điểm ở mức tối đa. Do đó, ta không nên tuyệt đối hoá bất cứ ai, có như vậy mới dám: "Nhìn thẳng vào sự thật" như cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khi sinh thời thường nói.Xuất phát từ mục đích của cuốn Hồi kí và việc làm nghiêm túc của mình, ngay từ khi chuẩn bị viết hồi kí, tôi đã báo cáo với Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Trưởng ban tổ chức Trung ương Trần Đình Hoan.Sau khi viết xong tôi đã đưa đến Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in giúp, từ ngày 18/10/2004. Nhưng sau 6 tháng không được trả lời, trái với quy định của Nghị định số 79/CP ngày 6/11/1993, điều 8: "Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được bản thảo, Nhà xuất bản phải trả lời cho tác giả".Để kịp phục vụ cho Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khoá IX, cuối tháng 4/2005 tôi làm tại nhà riêng 300 cuốn đóng gói thành sách cho lịch sự, đầu tháng 5/2005 ngày mồng 10 tôi gửi cuốn Hồi kí tới đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, ngay sau đó tôi gửi tiếp cho đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí Uỷ viên Trung ương phụ trách ngành tại thủ đô Hà Nội và một số Thành phố lớn, tổng số khoảng 80 cuốn, gồm 74 đồng chí. Có một số đồng chí xin thêm 1, 2 cuốn. Cùng thời gian này tôi gửi tặng một số đồng chí nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương cùng khoá với tôi, và một số bạn bè, người thân trong gia đình. Khoảng 20 giờ ngày 21/5/2005, đồng chí Phan Diễn - Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư gọi điện thoại cho tôi nói: "Ngày 22/5/2005 vì bận không đến dự đại hội thành lập Hội Khoa học Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, chúc Hội nghị thành công". Sau đó đồng chí Phan Diễn có trao đổi với tôi về cuốn Hồi kí, đồng chí có nêu một số điểm không có lợi khi cuốn Hồi kí đó phát hành rộng rãi...". Tôi có báo cáo với đồng chí Phan Diễn, tôi chỉ in có 300 cuốn và đã ghi "Lưu hành nội bộ", nay còn một số, nếu thấy có hại, đề nghị đồng chí cho người lại nhà tôi ngay trong đêm nay chứng kiến, để huỷ toàn bộ số Hồi kí còn lại" (tôi nói ý chính, còn cuộc nói chuyện trên điện thoại khá dài).Ngày 1/7/2005 Văn phòng Trung ương Đảng có giấy mời tôi đến làm việc từ 8 giờ đến 10 giờ 15’. Đồng chí Phan Diễn chủ trì, có đồng chí Nguyễn Khoa Điềm - Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, đồng chí Phạm Quang Nghị - Bộ trưởng Bộ Văn hoá, đồng chí Ngô Văn Dụ - Chánh Văn phòng Trung ương. Đồng chí Dụ không phát biểu, 3 đồng chí phát biểu chủ yếu là phê phán khuyết điểm việc xuất bản cuốn Hồi kí; tôi phát biểu lại là tôi không sai phạm gì. Cuối cùng đồng chí Phan Diễn nói: "Đề nghị anh Thành không làm gì thêm nữa. Anh báo cáo còn 18 cuốn, chúng tôi không thu".2. Việc gây hoang mang tinh thần tư tưởng ảnh hưởng xấu, nhất là những nhân chứng đối với cuốn Hồi kí của tôi.Việc đầu tiên là đột ngột chấm dứt Hợp đồng thuê Hội trường số 9 Nguyễn Cảnh Chân để họp đại hội thành lập Hội Khoa học Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam. Đại hội sẽ họp vào ngày 22/5/2005; ngày 20/5/2005 Ban Tài chính Quản trị Trung ương yêu cầu chấm dứt Hợp đồng, bất khả kháng, sẽ bù thiệt hại cho bên thuê. Ban Tổ chức rất lúng túng, phải chạy đi khắp nơi, may mà khách sạn DAEWOO cho thuê hội trường, nhưng giá gấp 4 lần ở số 9 Nguyễn Cảnh Chân, nhưng đến nay cũng chưa được đền bù thiệt hại.Việc thứ hai: Đảng uỷ khối Kinh tế Trung ương ép Đảng uỷ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam không cho con trai thứ ba của tôi là Đoàn Duy Khương là Thường vụ Đảng uỷ không được tiếp tục ứng cử vào Ban chấp hành Đảng uỷ khoá mới.Con trai cả của tôi là Đoàn Duy Linh là Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng đang nằm trong quy hoạch, bị tuyên bố xoá tên trong danh sách quy hoạch không được dự kiến vào Ban chấp hành Thành uỷ Hải Phòng sắp tới.Đối với tôi, tung tin rất rộng rãi là tôi bị quản thúc, có công an mật giám sát 24/24 giờ. Ai đến nhà tôi bị theo dõi... vì đã đưa vào "ống ngắm" của công an v.v...Việc thứ ba: Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và một số Ban Tuyên giáo tỉnh, thành phố cho cán bộ đi một số tỉnh, thành phố, cơ sở nói chuyện và lên án cuốn Hồi kí của tôi, đặc biệt là viết bài in trong Tạp chí Tư tưởng Văn hoá và Thông báo nội bộ tháng 8/2005, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội trang 19, loại tài liệu thứ bẩy, ghép Hồi kí của tôi vào loại bài của Bùi Tín, tuy không nêu đích danh, nhưng người đọc đều biết là cuốn Hồi kí của tôi. Có nghĩa xếp tôi vào loại "phản động" như Bùi Tín. Nên rất nhiều bạn bè trong cả nước viết thư, gọi điện thoại cho tôi, người thì động viên, người thì lo lắng cho tôi...Đặc biệt nghiêm trọng hơn là anh Nguyễn Văn Thuận - Bí thư Thành uỷ Hải Phòng người được anh Đỗ Mười đỡ đầu đã tổ chức 3 cuộc họp lớn nói là để phổ biến Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, nhưng tập trung nói về cuốn hồi kí của tôi có 5 sai phạm nghiêm trọng, bị thu hồi và bị thi hành kỷ luật. Cho cán bộ tuyên giáo và cán bộ công an xuống quận, huyện, xã... xuyên tạc cuốn Hồi kí của tôi và nói tôi đã trốn ra nước ngoài. Việc làm này đã bị nhiều đảng viên và quần chúng phản đối có văn bản gửi lên các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm. Do đó đồng chí Nguyễn Khoa Điềm và đồng chí Hồng Vinh - Trưởng phó Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương xuống Hải Phòng tổ chức 2 cuộc họp lớn đề phổ biến lại Nghị quyết 12 của Ban chấp hành Trung ương khoá IX.Những việc làm hoang mang về tinh thần và tư tưởng trên đã ảnh hưởng đến một số người liên quan đến cuốn Hồi kí của tôi. Thí dụ: đồng chí Vũ Oanh - Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị có dùng từ "mót" nói về anh Lê Đức Thọ, nay cải chính là không nói. Trước khi viết Hồi kí, tôi đã cẩn thận xác minh lại từ "Mót" với anh Vũ Oanh. Anh Vũ Oanh còn phân tích cho tôi nghe là "Anh Thọ lúc đó cho là sau anh Lê Duẩn, chỉ có anh Lê Đức Thọ làm Tổng bí thư mới xứng đáng", nay anh Vũ Oanh từ chối, không nói từ "mót" với tôi, thế mới biết tâm lí sợ liên quan, chỉ có từ "mót" với ý nghĩa "mong muốn", có thế thôi mà cũng sợ, sự mong muốn để phát triển của xã hội và cá nhân thì ai chẳng có, nói có xấu gì đâu đối với từng con người. Tôi gửi tặng anh Oanh cuốn Hồi kí sớm nhất, anh khen hay, không nói gì đến từ "mót" cả (khi tôi hỏi lại anh Vũ Oanh từ "mót", tôi không nói để viết Hồi kí).Chị Lê Thị Kiệm vợ đồng chí Lê Xuân Thịnh - nguyên Bí thư Thành uỷ Hải Phòng đã hi sinh năm 1952 ở Thái Bình tôi có gửi bản thảo cho chị xem trước, chị khen rất hay, không góp ý kiến gì, khi có bản chính thức tôi gửi biếu chị Kiệm một bản, chị đọc lại vẫn khen rất hay. Nhưng đến khi Hồi kí của tôi bị ghép vào loại "ngoài luồng" cùng vào loại bài phản động của Bùi Tín thì chị Kiệm từ chối việc không biết ông Trần Phương, ông Cao Sĩ Kiêm là ai cả, nên không nói chuyện với anh Thành về việc này. Còn 4 người khác, cũng sợ liên luỵ nên không nhận. Riêng anh Hoàng Minh Thắng còn chân thành, anh Thắng đến nói với tôi: "Hai việc tôi nói về anh Thắng là đúng, còn việc nói "xin anh làm Bộ trưởng, tôi nói là không nhớ".Tôi trả lời: "Tùy anh nói thế nào cũng được". Tôi chỉ biết là tôi viết trong hồi kí là hoàn toàn sự thật, không bịa đặt.3. Những sự việc Tổ công tác 338 nêu lên là:a) Vi phạm luật xuất bản 1993, điều 5; việc này tôi đã giải trình ở phần đầu rồi, tôi không phạm luật.b) Một số nội dung sai phạm chính sách, chỉ thị của Đảng, việc này trước khi viết tôi đã đọc kỹ các văn bản mới nhất của Đảng, đối với những sự việc tôi viết không có gì sai phạm.c) Nói nội bộ mâu thuẫn, hạ bệ lẫn nhau, mất đoàn kết đó là sự thật, nhưng tôi chỉ nói qua một số việc nhằm làm cho cán bộ, đảng viên rút kinh nghiệm để tự sửa mình, không được phép làm như vậy, nhất là cán bộ cao cấp. Còn việc mất đoàn kết, tranh giành quyền ở các cấp các ngành trong cả nước thì ai mà chẳng biết. Các đồng chí ở Uỷ ban Kiểm tra còn biết hơn tôi nhiều.d) Tự đề cao mình, đánh giá thấp Bộ Chính trị, đó là nói không chính xác, tôi đánh giá rất cao các đồng chí Bộ Chính trị, tôn trọng các đồng chí, nếu có nói một việc nào về đồng chí đó, thì rất là đời thường. Thí dụ: như anh Linh khóc 4 lần là sự thật là sự thật của một đồng chí Tổng bí thư rất có cảm tình với tôi, nên khi nhắc đến việc "Từ chức" của tôi về nội tâm thế nào không ai biết được, nhưng thể hiện bên ngoài là khóc, thấy rõ một tình cảm sâu sắc với đồng chí, đó là lẽ thường của con người. còn nói anh "Đần" là chị Huệ vợ anh Linh nói, còn tôi khen anh thông minh, đó là câu chuyện rất lí thú về tính khiêm tốn của một vợ Tổng Bí thư, cũng cho tôi là nói xấu anh Linh, thì tôi cũng không biết trả lời ra sao...?Hay nói: tôi nói xấu Bác Hồ, thông qua lời nói của anh Lê Duẩn thì tôi thấy ý này là quá suy diễn, mà không thấy đây là cái vấn đề triết học, vật chất quyết định ý thức, khi nước còn nghèo thì Bác kêu gọi thi đua yêu nước để đánh giặc ngoại xâm, khi hoà bình xây dựng cần thưởng vật chất cho người có công, đó là tình hình thay đổi, thì cách làm thay đổi sao lại bảo tôi nói xấu Bác Hồ. Một số việc khác cũng chỉ là suy diễn chủ quan.Còn nói tôi đề cao cá nhân, tôi chi viết lại công việc thực tế đã làm với tập thể. Tôi còn khoảng 10 việc về thành tích cá nhân tôi không nói như: Khen thưởng Huân huy chương; Thương binh. Trong tù anh em gọi tôi là "Vua chịu đòn", Tạp chí Lịch sử Đảng đã đăng bài của đồng chí Văn - Tân nói về sự kiện này; Phóng viên Pháp đến phỏng vấn tôi: "Tại sao không theo Bảo Đại mà theo Hồ Chí Minh", tôi đã chỉ thẳng vào tấm ảnh của Bảo Đại trả lời là: tên bù nhìn (Fantoche), đã ồn lên một thời ở nhà thương Chợ Quán Sài Gòn; Suốt đời làm từ thiện, cuối đời còn đồng nào tích luỹ được thì xây dựng thư viện với 5.700 cuốn sách, đã được nhà văn Hữu Giới viết thành sách xuất bản tháng 9/2005 v.v... để phục vụ cho nhân dân xã tôi và vùng lân cận đến đọc và mượn sách.e) Tôi phủ định Hội nghị đối chất là hoàn toàn không đúng, mà chính anh Đỗ Mười cho anh Tô Duy viết bài báo trên tờ An Ninh Thế Giới đề ngày 17/4/2003, trang 31 với đầu đề: Trở lại bài báo "Về cuộc vượt ngục lớn nhất trong 113 năm lịch sử nhà tù Côn đảo", đăng trên An ninh thế giới số 316, 317 ra ngày 6 và 13/2/2003 đã phủ định toàn bộ cuộc họp đối chất chính do anh Đỗ Mười chủ trì, không những thế mà còn phủ định luôn cả kết luận số 897-NQ-NS/TW ngày 01/10/1984 do đồng chí Võ Chí Công kí. Chính sự việc này, tôi mới xác định được việc anh Đỗ Mười chủ mưu cùng anh Tô Duy dựng lên vụ án gián điệp, đã làm khổ nhục tôi suốt 20 năm, đến ngày 2/8/2003 tôi mới biết.f) Việc vợ tôi, cô Phí Thị Tâm đốt hết Huân, Huy chương, giấy khen của cả 2 vợ chồng, là do vào lúc thế cùng, lúc o ép dọn nhà, nên uất ức đã không làm chủ được bản thân, đã đốt tất cả, nay cô Phí Thanh Tâm đã qua đời, đáng lẽ các đồng chí cần thông cảm với sự đau khổ đó của một người phụ nữ, không nên nhắc lại và coi như một khuyết điểm thì thật không nên.g) Vấn đề nhập vàng, đề nghị các đồng chí xem văn bản ở Văn phòng Trung ương từ tháng 8/1987 đến 1990 chắc còn tài liệu lưu về việc này. Các nhân chứng còn nhiều. ở Bộ Ngoại thương (Sau là Bộ Kinh tế Đối ngoại) có cả một tổ phụ trách việc này, do đồng chí Đinh Phú Định - Thứ trưởng, đồng chí Uyên - Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu phụ trách. Đồng chí Võ Văn Kiệt là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, khi đồng chí Phạm Hùng qua đời, đồng chí Võ Văn Kiệt làm quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng một thời gian; đồng chí Vũ Ngọc Phương, đồng chí Nhật Hồng v.v... là những cán bộ thực thi việc nhập vàng. Thế mà ngày nay theo báo cáo của Tổ công tác 338 là anh Đỗ Mười nói không có việc nhập vàng, anh Trần Xuân Giá - Chủ nhiệm Văn phòng cũng xác định là không có việc nhập vàng. Thực tế thời kì nhập vàng là anh Hồ Ngọc Nhường làm chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, chứ không phải anh Trần Xuân Giá.Nhiều địa phương nhập vàng, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, còn phía Bắc chỉ có Hà Nội nhập, Hà Nội cũng nhập vàng làm nhiều lần (trong hồi kí của tôi đã nói rõ). Một câu chuyện rất ngắn, nhưng đáng suy nghĩ, do anh Trần Văn Hiển, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội thương, tháng 9/2005, kể với tôi như sau: "Đ/c Cao Sĩ Khiêm nói với anh Hiển: ông Mười tự nhiên gọi điện thoại cho tôi (Cao Sĩ Khiêm) hỏi: tôi bảo cậu nhập vàng phải không" anh Hiển không hỏi lại đồng chí Cao Sĩ Khiêm trả lời ra sao câu chuyện ngắn này chắc mọi người cũng hiểu nội tâm anh Mười ra sao. Tôi đề nghị Trung ương cho đối chất việc nhập vàng với anh Đỗ Mười, và một số sự việc khác mà tôi chưa viết trong Hồi kí.Còn một số việc trong dự thảo báo cáo của Tổ công tác 338, nó trùng lặp với sự phân tích trên của tôi, và tôi thấy là những chi tiết nhỏ trong hàng trăm sự kiện trong hồi kí của tôi. Tôi chỉ xin nói lại một lần nữa là tôi không có sai phạm gì trong viết cuốn Hồi kí của tôi. Mong được các đồng chí Tổ công tác 338 và các đồng chí trong chi bộ thấy rõ sự thật, việc làm nghiêm túc của tôi, vì sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng đất nước. Còn nói dư luận quần chúng như dẫn chứng báo cáo của Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hải Phòng thì thật là không khách quan. Sau một thời gian gây hoang mang tinh thần, tư tưởng trong Đảng và trong quần chúng đối với cuốn Hồi kí của tôi, coi như "Tài liệu thù địch". Đây là cuộc "Khủng bố tinh thần" thì mọi dư luận, ý kiến về cuốn Hồi kí của tôi là không khách quan, ngay đồng chí Vũ Oanh, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị còn dao động, cải chính lời nói trước của mình, thì những cán bộ, đảng viên, quần chúng còn ai dám nói khác với một số cán bộ Tuyên giáo. Tất nhiên cũng có nhiều người trung thực đã dám phê phán cách làm áp đặt, đã khiếu nại lên Trung ương, nên mới có lần phổ biến lại Nghị quyết 12 của Ban chấp hành Trung ương khoá IX ở Hải Phòng. Tôi đề nghị đó là một kinh nghiệm, muốn thực sự cầu thị, lấy được những ý kiến trung thực để xây dựng Đảng, xây dựng đất nước, cần khách quan, không gây bất cứ sức ép về tâm lí. Càng không nên có những hành động vi phạm pháp luật như kéo dài việc phê chuẩn Điều lệ của Hội Khoa học Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, đã gần 6 tháng kể từ ngày họp Đại hội 22/5/2005, nên Hội không có dấu và không có tài khoản để thực thi công việc của Hội, mặc dù mọi thủ tục với cơ quan hữu quan của Đảng và Nhà nước đã hoàn tất. Nhưng Bộ Nội vụ kéo dài không giải quyết theo quy định của pháp luật. Đó cũng là sức ép tinh thần đối với hội viên và cộng tác viên của Hội. Thể hiện cách làm của chúng ta thiếu chặt chẽ, chín chắn, thận trọng. Không nên vội vàng. Nó cũng là những điều cần rút kinh nghiệm của một Đảng cầm quyền, một Đảng đã dày dạn đấu tranh cách mạng hơn 75 năm. Chúng ta cần đĩnh đạc, đàng hoàng, xử lí các vấn đề minh bạch, công khai, có lí, có tình để thuyết phục lòng người.Tóm lại: Cuốn Hồi kí của tôi nó ví như bốc một đơn thuốc cho một con bệnh, có hai cách, nếu theo "Bá đạo" thì bốc "Triệt ngược", còn tôi bốc theo "Vương đạo" là: "Tứ thuận thanh tiêu" làm cho người ốm khỏi bệnh, người không có bệnh thì khoẻ lên, người khoẻ rồi thì càng khoẻ hơn nữa. Do đó, những người chống chế độ ta ở nước ngoài, họ rất căm ghét Hồi kí của tôi, từ Mỹ sang úc... Họ xuyên tạc, vu khống rất trắng trợn. Chắc các đồng chí đã đọc trên Internet.Còn ở trong nước nếu tư duy của chúng ta thông thoáng, công khai, minh bạch, khách quan, công bằng, lắng nghe ý kiến của nhau thì chắc chắn cuốn Hồi kí của tôi không có gì ghê gớm cả, chỉ là chuyện thật đời thường.Xin cảm ơn các đồng chí.
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2005người ghi chú kí tênĐoàn Duy Thành

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2008

No7: CHÂN DUNG ÔNG TỐ HỮU

Thực ra, người viết đã nghĩ là sẽ không ghi chép, bình luận thêm gì về chân dung ông Tố Hữu nữa. Nhưng đọc báo trong nước, lại thấy ông Tố Hữu tự tô đậm thêm chân dung của ông một lần nữa, nên cũng xin chép lại để giới thiệu với các bạn. Số là, sau khi cuốn “Chân Dung Và Ðối Thoại” của Trần Ðăng Khoa ra mắt độc giả, dư luận trong nước khá xôn xao, bạn đọc kẻ khen người chê, người thì cho là Trần Ðăng Khoa mạnh dạn “xé rào” dám đưa ra một phần sự thật về các nhà văn, kẻ lại chê là tác giả “láo lếu” dám “xỏ ngầm” các bậc đàn anh khả kính. Tờ “An Ninh Thế Giới” (ANTG) quan tâm đến “an ninh văn hóa” nước nhà, đã cử nhà báo N.N.P. phỏng vấn ông Tố Hữu để xin ý kiến của ông về bài Trần Ðăng Khoa viết về ông. Trong ANTG số 117, có đăng bài phỏng vấn đó.

Trả lời câu hỏi của nhà báo công an, ông Tố Hữu nói:

- Chú chưa có ý kiến gì đâu. Cứ để các nhà phê bình, bạn đọc lên tiếng đã. Rồi sau đó chú sẽ có tiếng nói chính thức. Mà có lẽ tốt hơn cả là chú gọi Khoa tới... như ngày xưa Khoa còn bé tý. Mà này, cháu ở Văn hoá - Văn nghệ Công an hả. Chà chà, phải cẩn thận khi phát ngôn đấy. Kẻo người ta bảo ông Tố Hữu dùng "Công an đánh Khoa" thì gay. Cháu cứ ghi ý kiến của chú, đăng báo nào thì tuỳ, nhưng đăng ở Công an... Từ từ nhé!

Quả là ông nhà thơ tỏ ra... “khôn” thật. Ông dặn anh nhà báo công an phải cẩn thận... “Kẻo người ta bảo ông Tố Hữu dùng "Công an đánh Khoa" thì gay”! Tố Hữu làm như tuồng ông chưa hề bao giờ dùng công an “đánh” một văn nghệ sĩ nào cả! Chưa hề bao giờ bắt bớ, giam cầm và bỏ tù văn nghệ sĩ cả! Các văn nghệ sĩ là nạn nhân còn sống sót sau bao cuộc đàn áp - mà ông Tố Hữu là một trong những người phải chịu trách niệm chính - nghĩ thế nào khi nghe ông nói thế?

Rồi ông Tố Hữu nói tiếp:

- ... Tôi và anh Xuân Diệu phát hiện ra Khoa, bồi dưỡng Khoa. Tập thơ "Góc sân và khoảng trời" đến bây giờ vẫn giữ nguyên giá trị... Sau này, Khoa không được như trước nữa, có lẽ là vì "đứt rễ", vì phải xa cái sân gạch nhà mình, xa cây na ngày gọi chim, đêm gọi trăng... Nhà văn, nhà thơ mà xa mảnh đất đã làm nên mình là hỏng. Ðặc biệt sai lầm là cái việc đưa Khoa đi học Trường viết văn Goócki. Làm gì có trường dạy viết văn. Nghề văn không dạy được. Nhà văn hình thành là do cuộc sống, do một năng khiếu bẩm sinh. Nhà văn là phải học ở trường đời. Tôi cho Trường viết văn Nguyễn Du là thứ tào lao, không nên có. Chỉ nên mở lớp bồi dưỡng khoảng một năm.

Ðúng quá! “Làm gì có trường dạy viết văn. Nghề văn không dạy được. Nhà văn hình thành là do cuộc sống, do một năng khiếu bẩm sinh. Nhà văn là phải học ở trường đời”. Ðiều này trước đây nhiều người đã nói, nhưng ông Tố Hữu cũng như các vị lãnh đạo khác của Ðảng có chịu nghe đâu?! Còn... bây giờ thì ông nói thế, một lần nữa ông lại “phịa như thật”! Làm như tuồng trước đây ai đấy đã quyết định làm cái “thứ tào lao” đó, tức là bày ra Trường viết văn Nguyễn Du, là cử sinh viên đi học ở Trường viết văn Goócki, chứ không phải ông Tố Hữu, người đã “thống lĩnh” văn học nghệ thuật Việt Nam xã hội chủ nghĩa suốt mấy chục năm trời! Ông cũng cố lờ đi cái mục đích chính của trường viết văn do Ðảng của ông bày ra. Ðảng mở ra trường viết văn đâu có phải để dạy viết văn - như ông nói bây giờ - mà chính là để nhồi sọ cho các nhà văn tương lai cái đầu óc tuyệt đối phục tùng Ðảng, hết lòng hết sức phục vụ cho đường lối của Ðảng. Những thứ đó các ông lãnh đạo Ðảng thường gọi là “tính đảng trong văn học nghệ thuật”! Hay là “trau giồi thế giới quan mác-xít lê-nin-nít”!

Ðọc câu trả lời của Tố Hữu, tôi bỗng liên tưởng đến một chuyện thật chua xót thế này: sau khi đã giam cầm, bỏ tù một loạt văn nghệ sĩ hoàn toàn vô tội, hay chỉ có cái “tội” tha thiết ước muốn tự do, trong cái gọi là “vụ án Nhân Văn Giai Phẩm”, ngày 25.7.1961, ông Tố Hữu đọc một bài diễn văn quan trọng, nhan đề “Ðào tạo những nghệ sĩ mới của dân tộc”, trong đó ông nói: “Chúng ta giàu cái gì nhất? Giàu tự do. Tự do là điều kiện thiết yếu của nghệ thuật. Tự do là nước, nghệ thuật là cá. Không có tự do, nghệ thuật không sống được và sẽ chết. Nếu không có ý thức đầy đủ về điều đó, thì nghệ thuật không thể phát triển được” (chép đúng nguyên văn, xem tr. 261 sách “Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta với thời đại ta” của Tố Hữu, Hà Nội 1973). Xin nhắc lại: cái chúng ta giàu nhất là tự do!!! Ðấy, cái tài - có thể gọi là nghệ thuật - “phịa như thật” của Tố Hữu là như thế đó: cái đúng và cái bịp, cái thật và cái phịa xen kẽ nhau, xoắn quyện nhau, khó mà “lần” cho ra... Nhắc lại điều này để thấy chân dung ông Tố Hữu gần 40 năm trước và bây giờ về cơ bản không có gì thay đổi mấy!

Ông Tố Hữu nói tiếp với nhà báo công an:

- ... Nhưng mà này, tôi có cảm giác Khoa đang sống xa dân, xa cuộc sống thật... Nguy đấy. Gần đây, văn học nước nhà không có cuốn tiểu thuyết nào gây ấn tượng. À, tôi thấy có câu này không ổn. Khi nói đến Ðảng, đến Bác là chúng ta hay nói “ơn Ðảng, ơn Bác Hồ”. Nói thế Bác buồn đấy. Phải là “ơn dân” rồi mới đến Ðảng, đến Bác.

Một lần nữa, ông Tố Hữu lại tỏ rõ biệt tài “phịa như thật”. “Nói thế Bác buồn đấy”! Ðạo đức giả làm sao! Tố Hữu làm như hồi sinh thời, ông Hồ coi trọng dân hơn Hồ Chủ tịch, coi trọng dân hơn đảng cộng sản. Lẽ nào ông trưởng ban tuyên huấn của Trung ương Ðảng lại không biết chuyện ông Hồ đã dùng tên giả, tự tay mình viết sách (không phải chỉ một cuốn!), viết báo (không phải chỉ một bài) để ca tụng mình? Lẽ nào ông lại không biết là trong sách do ông Hồ viết, chính ông Hồ đã tự tôn vinh “Hồ Chủ tịch là Cha già dân tộc”? Nếu ông biết thì xin ông trả lời thành thật: “Thế thì Bác Hồ của ông đặt dân trên Bác hay Bác trên dân”?

Ông Tố Hữu cố tình quên là trước đây chính ông và “đội quân” tuyên huấn của ông là những kẻ gieo rắc tệ sùng bái cá nhân ông Hồ tích cực nhất, lắm khi đến lố bịch. Chắc ông Tố Hữu cố quên chuyện thật này: hồi đầu năm 60, một số người Hà Nội đã đề nghị dựng tượng các anh hùng dân tộc Lê Lợi và Nguyễn Trãi tại thủ đô Hà Nội, thì chính ông Tố Hữu đã bác đi và nói: “Chỉ khi nào ở thủ đô dựng tượng Bác Hồ rồi thì lúc đó mới được dựng các tượng khác của các anh hùng dân tộc”!

Mà thực ra, chẳng đợi ban tuyên huấn đảng làm chuyện gieo rắc tệ sùng bái cá nhân ông Hồ, chính bản thân ông Hồ cũng đã tự mình làm việc đó thật hăng say. Chuyện đó không còn là điều “tối mật” nữa.

Biết rằng cái thế của mình không còn “hét ra lửa” như xưa, ông Tố Hữu tỏ ra dịu dàng, “độ lượng” (chữ này của nhà báo N.N.P.) đến cảm động khi nhận xét bài viết của Trần Ðăng Khoa:

- ... Nhưng thôi, bài viết thế là tốt... Viết như thế có gì đâu mà không phải với tôi. Ờ, mà tại sao có người lại tức giận hộ cho tôi nhỉ... Khoa phải cẩn thận lắm mới có thể vượt qua "Góc sân và khoảng trời" nhà mình. Từ đó đến nay đã 30 năm rồi còn gì. Vậy mà sau lưng Khoa trống đấy. Cháu là công an hả, phải thổi còi cho Khoa thôi. Nhưng đừng để nó giật mình, ngã xe nhé!
Và anh công an đã thổi còi... Còn chúng ta đưọc thấy thêm vài nét nữa trên chân dung của Tố Hữu.

CHÂN DUNG ÔNG TỐ HỮU
(TRANH KHẢM)

Sau khi "Chân dung ông Tố Hữu" được đăng báo, người viết nhận được hồi âm của khá nhiều bạn đọc từ các nơi gửi đến góp ý kiến và bổ sung thêm nhiều chuyện mới khắc họa thêm những nét sống động cho chân dung. Người viết xin chân thành cảm tạ các bạn và xin phép chép ra đây mấy bài. Chúng tôi cố giữ nguyên phong cách, ngôn từ của các bạn gửi bài.

Cây táo ông Lành

Một bạn trong nước nói rõ bài “Tên Lành mà dạ chẳng lành...” lưu truyền từ hồi cuối những năm 70 và kể thêm một chuyện sau:
Năm 1974, nhân dịp ngày quốc tế thiếu nhi (ngày 1/6), tuần báo Văn nghệ có đăng truyện ngắn "Cây táo ông Lành". Chuyện kể về một ông già tên là Lành, có cây táo mọc trong vườn sát đường đi học của lũ trẻ trong làng. Bọn học trò thường vít cành bứt quả khiến ông bực tức và dùng vải đen tạo ra một ổ kiến lửa trên cây, dọa trẻ con. Lũ trẻ con trông tổ kiến giống đầu lâu đen sợ hãi, và tránh, đi lối khác, "không đi theo con đường ông Lành nữa". Lão Lành giữ được cây táo thì mất lũ trẻ con ríu rít hàng ngày qua lại. Lão tìm cách giải thích cho trẻ con đấy không phải là đầu lâu đen, nhưng chẳng đứa trẻ nào tin.

Tên cúng cơm của ông Tố Hữu là Lành. Hồi đó, ông đang ở trên “đỉnh cao muôn trượng” của quyền lực, thế là họ truy tìm lý lịch người viết. Lũ bồi bút "phê bình" văn học mang kính lúp ra soi, nào là "đầu lâu đen" viết tắt là ÐLÐ, ám chỉ Ðảng Lao động Việt nam, nào là "không đi theo con đường ông Lành nữa", nghĩa là không đi theo con đường của Ðảng...Tác giả bài báo phải “chịu sóng gió” một thời, nhưng may thay, anh là một thương binh có hạng, không thì cũng khó sống yên với họ.

"Khơi lại những ý thích tầm thường"

Một bạn khác cũng ở trong nước kể lại:

Dạo ấy, Nguyễn Tuân bị Tố Hữu phê phán nặng vì bài “phở” và “giò lụa” với tội danh “tư tưởng hưởng lạc”, “tầm phào”, “khơi lại những ý thích tầm thường”. Chuyện đó xảy ra sau khi quân ta vào Hà Nội vài năm, nên cái “tội” có “tư tưởng hưởng lạc”, “khơi lại ý thức tầm thường” là nặng lắm, vì nó thuộc về lập trường giai cấp, đó là biểu hiện tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, biểu hiện sút kém tinh thần cách mạng, điều mà Lê Duẩn thường “lên gân” nhắc nhở cán bộ.

Thế nhưng, vào thời đó ở Miền Bắc, người ta (cụ thể là ban bảo vệ sức khỏe lãnh đạo, được lập nên do sáng kiến của Lê Ðức Thọ và Trần Quốc Hoàn) cũng đã bí mật... “khơi lại những ý thích tầm thường” và “tư tưởng hưởng lạc”... cho “các cụ” lãnh đạo. Không phải bằng văn học như Nguyễn Tuân, mà “bằng công việc thiết thực”, tức là tuyển dụng các cô gái trẻ để thành lập khoa “lý liệu pháp” hay về sau đổi tên là “vật lý trị liệu” (tiền thân của massage - xoa bóp - sau này) chuyên “phục vụ” cho “các cụ” lãnh đạo. Bọn quân sư lý luận rằng “cơ thể là một khối thống nhất” cho nên phải làm “thức tỉnh” tất cả các cơ quan chức năng của “các cụ” để các cụ minh mẫn đưa dân ta ra khỏi con đường lầm than.

Ðứa con trai nhỏ “ngoài giá thú” của Ba Duẩn sinh hạ chính là trong dịp này. Chuyện ồn lên ở Hà Nội một dạo. Sau phải đưa cả hai mẹ con đứa bé vào Miền Trung bộ Việt Nam sống. Nghe nói năm 1986 khi Lê Duẩn chết, cô ta ra dự tang và xuất hiện trên màn ảnh TV.

Ao cá Bác Hồ

Chuyện này cũng do một bạn trong nước gửi cho:

Năm 1979, trong nước rộn lên phong trào “Ao cá Bác Hồ”, tác giả chính là Tố Hữu. Chuyện thế này: ở các vùng thôn quê, người ta huy động thanh thiếu niên đào ao cá Bác Hồ, cá giống được các bô lão thuê xe ca “Ba Ðình” gióng trống mở cờ lên tận nhà sàn Bác nhận cá giống. Ðúng là cá “thần” thật, chỉ một vài chục con thả xuống, sau thời gian ngắn đàn cá sinh sôi nảy nở phục vụ cho dân làng lễ Tết. Trước đó, từng gia đình người ta thả cá ở ao nhưng... ít khi được xơi. Lý do thì nhiều: nào là mưa to, cá trôi sạch, nào là bọn đạo chích câu trộm, nào là cá chết vì bệnh... Vì thế sáng kiến của Tố Hữu được báo chí khen rầm rộ. Lạ lùng thế này: trường đại học thủy sản, đào tạo các kỹ sư nuôi cá nước mặn, nước ngọt, nước lợ... mà không con nào sống cả, nhưng chỉ vài con cá “thần” lấy từ ao ông Hồ về thì cá lớn nhanh, khoẻ re. Sao không đóng mẹ nó cửa cái trường đào tạo ra rặt bọn ăn hại đái nát ấy đi? Hay là duy tâm thắng duy vật rồi?

Nhưng Tố Hữu đâu có biết rằng (hoặc biết mà lờ đi? - người đánh máy) sau khi thả “cá giống Bác Hồ” thì chủ nhiệm hợp tác xã cũng phải xuất thóc mua hàng tạ cá giống khác ném tiếp xuống ao, cử một xã viên ăn công điểm hẳn hoi ngày ngày giã cám vứt xuống ao nuôi chúng. Dân quân được lệnh 24/24 giờ trông coi ao cẩn thận. Nếu mưa to, cá bỏ đi mất thì... xuất tiền mua bù bỏ vào để khỏi bay cái chức chủ nhiệm.

Tại ao cá Bác Hồ nằm phía sau Nhà hát nhân dân thành phố Hải phòng, giáp với ngõ Ðồng Lùn (quê hương của anh bạn tôi) đã xảy ra thảm cảnh. Tự vệ trông hồ cá đã nổ súng vào bọn đánh cá trộm ban đêm. Không trúng trộm, mà trúng ngay bà cụ 70 tuổi nằm hóng mát ven hồ. May mà lũ con bà cụ không làm to chuyện, sáu mâm cỗ và cỗ quan tài là... xong việc.
Giá như Bác Hồ, ngoài việc biết nuôi cá, lại biết làm thêm xe máy, ôtô, máy bay, TV ... để Tố Hữu “vận dụng” theo kiểu “ao cá Bác Hồ” thì... chắc dân ta không mạt vận như thế này!

Tố Hữu thương thanh niên Pháp

Một bạn hiện đang tị nạn ở Ðức gửi thư kể chuyện này:

Sau khi dự đại đại hội Ðảng cộng sản Pháp, về nước Tố Hữu thường tỏ lòng thương thế hệ trẻ Pháp. Trong buổi gặp mặt thanh niên ở Hà Nội, ông nói như sau: "Thật thương cho thế hệ trẻ ở Pháp có cuộc sống vật chất đầy đủ, nhưng còn thiếu ánh sáng của chủ nghĩa xã hội soi rọi để sống có lý tưởng" (!)

Thế mà bây giờ con gái Tố Hữu tên là Hoa, phó tiến sĩ sinh vật học đang cùng chồng là Châu (tiến sĩ cơ học) mang con cái sang ở Ðức, chỗ tăm tối thiếu ánh sáng của chủ nghĩa xã hội và có ý định sống lâu dài ở đó. Không thấy Tố Hữu thương con, thương cháu gọi chúng về nước... sống dưới ánh sáng của chủ nghĩa xã hội!

Chỉ sợ các Bác không buông quang gánh ra thôi

Một bạn đã từng đi học ở Czechoslovakia (Tiệp Khắc) kể lại chuyện thật mà anh đã chứng kiến sau đây:

Hè năm 1981, Tố Hữu lúc đó là Phó thủ tướng thường trực, sang thăm một số nước Châu Âu. Hồi đó, Tố Hữu thay quyền hạn Phạm Văn Ðồng, nên kiêu lắm. Tại Prague (thủ đô của Czechoslovakia), có cuộc gặp gỡ và nói chuyện với sinh viên. Khi ra về, Tố Hữu lên giọng "lãnh tụ" cũng tự xưng là “bác” như... ai: "Bác và các đồng chí lãnh đạo đang gồng mình gánh vác gánh nặng khó khăn của đất nước, các cháu cần phải học hành chăm chỉ để sau này thay thế các Bác gánh vác gánh nặng ấy. Các cháu đã sẵn sàng chưa?"
Một sinh viên lớn tuổi nhất trong đám đông trả lời ngay tắp lự: "Chúng cháu đã sẵn sàng cả rồi, chỉ sợ các Bác không buông quang gánh ra thôi". Tố Hữu tím mặt, tọt ngay vào xe, chuồn thẳng. Khốn khổ cho anh chàng bạo miệng! Tố Hữu về đến Hà Nội thì anh này bị sứ quán gọi lên và trục xuất về nước ngay.

Cái nhầm... đáng yêu

Một cụ già về hưu đã gửi cho mẩu chuyện này:

Vào những năm 70, nhà thơ "mẹ mìn" của chúng ta bỗng dưng sáng chói trên chính trường Việt Nam, với chức Phó thủ tướng thường trực. Theo lời đồn đại của dân chúng thì ông còn được "dự kiến" làm Tổng bí thư Ðảng, kế vị Lê Duẩn. Thế mà sau cái chết của Lê Duẩn vào năm 1976, khúc sông chính trị bỗng nhiên nổi sóng, khiến cho Tố Hữu lặn mất tăm, không còn vai vế gì trong Ðảng. Tố Hữu sống ở ngôi nhà khá đẹp trên phố Phan Ðình Phùng. Ðã thấu hiểu phương châm "sóng trước vỗ đâu, sóng sau vỗ đó" của các "chiến hữu", Tố Hữu lo xa đến ngày phải rời tổ ấm chuyển đi căn hộ "lắp ghép" với "song sắt chuồng cọp", bèn nẩy kế xin một khoảnh đất đẹp ở Hồ Tây để... xây nhà trong lúc tình cảm đồng chí còn chưa hết hơi nồng.
Tố Hữu đã nhầm to, chẳng có ai "thu" lại ngôi nhà to đùng ở phố Phan Ðình Phùng, như ông nghĩ, nên ông vẫn ung dung "tọa lạc" ở đó. Còn ngôi nhà to đùng mới xây "thừa ra" ở Hồ Tây đành phải cho thuê lấy 2000USD/tháng, phụ thêm khoản rau dưa cho bà Thanh (v
ong) đi chợ.


Cái nhầm đáng yêu của ông Lành không ngờ mang lại hiệu quả lớn!

* * *

Những mẩu chuyện trên đây ghép lại thành bức tranh khảm, xin gửi tặng các bạn.

Thanh Phong

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2008

No6: Vì sao Việt nam "hoãn" Bầu cử Chủ tịch Xã?



Khi Thằng Bé Cộng Sản Việt Nam sợ những bước đi chập chững dân chủ

Theo tin Vietnamnet, hôm 15 tháng 11 vừa qua, ngay trước khi bế mạc kỳ họp thứ tư, với 95 phần trăm số phiếu tán thành, quốc hội Việt Nam đã bỏ quyết định về thí điểm cho người dân trực tiếp bầu chủ tịch xã. Nói là việc này "được lùi lại, cân nhắc và tiếp tục nghiên cứu để quyết định vào thời gian thích hợp."

Trước đó, trong khi thảo luận lần đầu tại các phiên họp tổ, và tại Hội trường quốc hội, đa số đều nhất trí với chủ trương cho người dân bầu trực tiếp chủ tịch xã. Xem đây là "một bước tiến dân chủ và kỳ vọng tiến tới sẽ bầu trực tiếp ở cấp cao hơn.". Giải trình trước quốc hội hôm 7-11, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Nam Trần Văn Tuấn khẳng định rằng, chủ trương này đã được nghiên cứu kỹ, đã lấy ý kiến của các địa phương, và nhận được sự ủng hộ... Tuy nhiên, chỉ một tuần sau đó, Phó Chủ tịch quốc hội Uông Chu Lưu lại giải trình trước quốc hội rằng,vì còn nhiều mô hình khác nhau, nên việc bầu trực tiếp như vậy sẽ không thuận cho chỉ đạo, điều hành.

Tại sao Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam lại đi thụt lùi trên bước tiến dân chủ ngay từ bước đầu dò dẫm như thế? Câu trả lời có lẽ nằm trong câu chuyện bầu cử Xã sau đây, mà các báo đài của nhà nước đã không dám loan tải.

Mới đây Cộng Sản Việt Nam đã thử nghiệm cho bầu cử “tự do, dân chủ” chức vụ chủ tịch Xã ở một vài địa điểm. Tại xã Ngọc Mỹ, Huyện Quốc Oai, Hà Tây, qua 3 đời chủ tịch Xã: Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Thế Dục, Nguyễn Văn Khôi, dân trong xã đã thấy những chủ tịch xã vừa kể đều bất xứng. Trong đợt bầu cử Xã vào tháng 6/2008, Chủ tịch xã đương nhiệm Nguyễn Văn Khôi ra ứng cử, dân chúng trong Xã phản đối, tẩy chay không tham gia đi bầu. Sau cùng Uỷ ban Nhân Dân Hà Tây phải đưa ra nhân sự mới là Nguyễn Chí Lợi ra ứng cử. Dân chúng Xã Ngọc Mỹ cũng không đồng ý tham gia bầu cử với 1 ứng viên độc diễn được đảng đưa ra, và họ tự đề cử một cựu chiến binh là ông Nguyễn Văn Trực ra tranh cử cùng với ông Nguyễn Chí Lợi. Kết quả ông Trực thắng cử và thắng lớn. Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây đã buộc phải chấp nhận kết quả,và ông Nguyễn Văn Trực là tân Chủ Tịch xã Ngọc Mỹ, Huyện. Quốc Oai, Hà Tây.

Đây là một sự kiện phấn khởi, cần được loan tin rộng rãi, để nêu cao tinh thần “Nhà Nước là từ dân, của dân, vì dân”. Vì qua cuộc bầu cử trên, người dân xã Ngọc Mỹ đã thể hiện đúng nghĩa tinh thẫn người dân àm chủ tập thể, tự quyết định lấy vận mạng của mình, tự chọn cho mình người đại diện mà mình tin tưởng, thay vì để người khác chọn hộ. Bà con xã Ngọc Mỹ cũng đã chứng tỏ một ý thức dân chủ cao độ, đầy tự tin, khi cương quyết từ chối tham gia vào những cuộc bầu cử mà họ không được có cơ hội bầu cử một cách công bình. Chính sự tự tin và cương quyết đó đã buộc Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây phải chấp nhận kết quả cuộc bầu cử dân chủ này. Sau đó, Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây đã tôn trọng ý nguyện người dân, thể hiện tinh thần nhà nước là công bộc phục vụ nhân dân, lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Thái độ này của Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây nhiều phần sẽ được nhân dân tín nhiệm, mà không cần phải có sự giúp đỡ qua những áp đặt chuyên chế từ Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Đảng và nhà nước Việt Nam bao năm qua đã hô hào dân chủ hoá từ cơ sở, lẽ ra phải vui mừng với cuộc bầu cử kể trên tại xã Ngọc Mỹ, thì lại tỏ vẻ lo ngại. Sự lo ngại này biểu hiện qua việc không cho báo đài loan tải tin tức về cuộc bầu cử đó, và vội vàng đình chỉ vô hạn định những thử nghiệm cho dân bầu trực tiếp người đại diện ở cấp xã. Sợ rằng đảng sẽ mất quyền làm cha mẹ. Chỉ với quyết định cho người dân bầu cử trực tiếp ở đơn vị thấp nhất là xã, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vội rụt lại, không dám thử tiếp những bước chập chững trên đường dân chủ hóa, thì nhân dân Việt Nam không thể thụ động chờ mong Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dẫn dắt Việt Nam hội nhập vào thế giới dân chủ pháp quyền như họ đã hứa hẹn.

Để khỏi lại phải ăn bánh vẽ của đảng Cộng Sản Việt Nam thêm một lần nữa, người dân Việt Nam cần noi gương bà con xã Ngọc Mỹ, Hà Tây. Tự tin, mạnh dạn thực hiện quyền làm chủ cho chính mình Cương quyết tẩy chay mọi cuộc bỏ phiếu Đảng Cử Dân phải bầu. Những cuộc bầu cử phải là cơ hội để người dân thực hiện quyền dân chủ thực sự, qua việc tự mình chọn lựa người đại diện xứng đáng cho mình.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2008

No5: Tại sao Thủ tướng CP không gương mẫu thực hiện quyền của mình theo luật !!!

Tỉnh Ninh Bình ngày 04 tháng 11 năm 2008

Tại sao Thủ tướng Chính Phủ “ông Nguyễn Tấn Dũng

Không gương mẫu thực hiện quyền của mình theo luật !!!

Thưa quí vị !

Thời gian qua tôi liên tục có đơn, bài gửi đến Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng và các cơ quan hữu trách phản ảnh việc bà Vũ Thị Thục 86 tuổi mẹ “liệt sỹ”. Trú tại : Số nhà 66 đường Tây thành, phường Nam thành, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình gần 40 năm đi tìm công lý cho chồng là ông Hoàng Văn Qùi. Năm 1966 - Đảng lao động VN tức ĐCSVN ngày nay, chính quyền địa phương giao nhiệm vụ cho ông Qùi bảo vệ tài sản Bệnh viện Quân y số 5, kết hợp phục vụ cho Bộ đội chiến đấu. Chưa có chiến sự thì tăng gia sản xuất trong khu vực Bệnh viện để gây qũi cho đơn vị.

Ngày 28/8/1966 máy bay không quân của Mỹ đến ném bom ông Qùi bị thương trong khuôn viên “bệnh viện” đội cứu thương của xã Ninh Thành đưa đi cứu chữa vì vết thương quá nặng nên đã hy sinh, chính quyền địa phương tổ chức làm Lễ truy điệu tuyên bố trước Nhân dân sẽ đề nghị công nhận ông Qùi là liệt sỹ (cùng ngày trên địa bàn xã Ninh Thành có 2 dân quân đang trên đường đi bị bom chết tại chỗ là ông Ngà + bà Dần đã được công nhận liệt sỹ).

Chồng chết, con đầu là Hoàng Văn Cần có giấy gọi Đại học nhưng tình nguyện lên đường “đánh Mỹ” tức vào Nam rồi hy sinh năm 1968. Vậy là người đàn bà nghe lời kêu gọi của ĐCSVN mất Chồng, mất Con mong nước nhà độc lập, thống nhất để được hưởng cuộc sống Tự do, ấm no, hạnh phúc... Nhưng bọn “Quan lại” ở địa phương bắt nạt, buộc bà phải để đất của gia đình cho hộ liền kề làm đường đi. Bị áp bức người đàn bà góa đã đứng lên bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia đình và có đơn đề nghị các cơ quan xem xét trường hợp chết của chồng.

Các cơ quan tổ chức nhiều hội nghị gọi là xác minh, đối thoại không mời những người đại diện cho Đảng, chính quyền địa phương là các ông Trần Văn Lữ - Bí thư chi bộ đảng CS thôn Phúc Chỉnh. Nguyễn Văn Áp - Đại đội trưởng Dân quân II. Đặng Văn Chắt - Chủ nhiệm kiêm bí thư chi bộ CS của HTX Nông nghiệp Phúc Thành đến nhà vận động và giao nhiệm vụ cho ông Qùi. Họ lại dựng nhân chứng giả để bóp méo sự thật làm cho cán bộ đã giao nhiệm vụ cho ông Qùi bất bình có đơn kiến nghị.

Bà Thục càng có đơn kêu oan, các cơ quan lại thi nhau trả lời đã giải quyết công minh có tình, có lý !!! Ông Nông Đức Mạnh nguyên Chủ tịch Quốc hội CSVN xem xét đề nghị Bộ Lao động Thương Binh xã hội giải quyết dứt điểm. Nhưng Bộ này lý do “gia đình bà Thục mới có đơn chưa có hồ sơ của chính quyền địa phương đề nghị công nhận liệt sỹ cho ông Hoàng Văn Qùi. Chính quyền địa phương lại lý do “Bộ có quyết định 652 chấm dứt vụ việc nên không giám lập hồ sơ...” ?

Trước cảnh người sinh ra mình bị bọn “Quan lại” cửa quyền sách nhiễu. Dưới đá lên trên đạp xuống tìm hiểu chính sách của Đảng, các qui định của pháp luật và những trường hợp tương tự ông Hoàng Văn Qùi được “Quan lại CSVN” địa phương lập hồ sơ đề nghị trên xét công nhận liệt sỹ ? Tôi gửi đơn đến Bộ LĐTBXH, ông Bùi Sỹ Lợi - Chánh thanh tra có số 835/LĐTBXH-TTr ngày 14/11/2005 đưa ra văn bản các “Quan CS” đã tự ý dụng quyền lực trả lời không thỏa đáng trong đó có quyết định 652 của Bộ và nói; “nếu ông và gia đình chưa rõ đề nghị làm đơn gửi Tổng thanh tra để được giải thích.”. Tôi có đơn gửi Tổng Thanh tra sau đó trực tiếp đến 220 Đội Cấn, Hà nội. Tới đây tôi chứng kiến cảnh người dân đội đơn kêu oan trước xe ông Quách Lê Thanh - Tổng thanh tra Chính phủ nhưng ông “Tổng Quách” thể hiện khí tiết “Người chiến sỹ CS phải có trai tim Đá và dòng Máu lạnh...”, mặc cho lũ dân đen kêu oan ông Tổng Quách ta cứ ung dung ngồi trên xe hơi tân kỳ có máy lạnh vì đã có công an và bảo vệ xua đuổi lũ dân đen để ông Tổng tiến thẳng vào công đường !!!

Kỳ họp thứ X, Quốc hội của đảng CSVN khóa XI theo dõi đại biểu Quốc hội chất vấn vụ việc ông Tổng Quách nhận 110 triệu tiền quà biếu, tôi mới hiểu vì ông Tổng mải nhận quà nên quên không giải quyết đơn thư khiếu kiện tố cáo của dân, thế rồi ông cũng được hạ cánh an toàn cùng 6 Quan chức khác, về hưu chót lọt chẳng hề hấn gì sất ?

Ngày 24/2/2006 ông Lợi gửi thư cho bà Thục cầm đến UBND phường Nam Thành, các “Quan lại CS ” lý do : Thư không có dấu, không nói rõ phường lập lại hồ sơ ? Người đàn bà ngoài 80 tuổi lại từ Ninh Bình lên thủ đô Hà Nội, tôi viết thư gửi ông Lợi. Cơ quan Bộ có số 9337/LĐTBXH - TTr ngày 24/3/2006 do Nguyễn Văn Tiến - Phó Thanh tra ký nội dung “trả lại đơn và các giấy tờ để ông thực hiện quyền Khiếu nại theo qui định của pháp luật ” ? Tôi làm theo hướng dẫn các “Quan lại” không giải quyết đơn theo luật tự ý ra số 22/CV-UBND ngày 07/7/2006 cho rằng : “xem xét cái chết của ông Hoàng Văn Qùi để công nhận liệt sỹ không thuộc thẩm quyền của UBND phườmg Nam thành ” gia đình lại nhờ Bộ can thiệp. Bộ LĐTBXH thông báo: Đúng 8h30 ngày 29/11/2006 tổ chức đối thoại tại phường Nam Thành. Hội nghị này do ông Tiến chủ trì, không mời nhân chứng, không làm đúng nội dung người Khiếu nại, Tố cáo yêu cầu ? Khi đối thoại không giải thích được ông Tiến lừa đảo nói “để đi gặp nhân chứng rồi quay lại gặp gia đình” nhưng tự ý ra số 478/LĐTBXH-TTr ngày 20/12/2006 trà đạp lên số 9337 ngày 24/3/2006 chính “Quan” Tiến hướng dẫn tôi làm theo luật. (nôi dung hội nghị đối thoại tôi có ghi âm).

Không nhất trí số 478 tôi có đơn phúc đáp gửi ông Tiến và Báo cáo đến các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước không có hồi âm? Ngày 20/6/2007 tôi đến Bộ ông Tiến lý do không nhận được đơn, tôi đưa số 21 ngày 25/1/1007 Mặt trận Tổ quốc Việt nam báo tin đã chuyển đơn đến Bộ, ông Tiến yêu cầu đưa đơn xem xong ông giao cho bộ phận “một cửa” nhận !

Ngày 20/7/2007 tôi gặp ông Bùi Hồng Lĩnh - Thứ trưởng khi tôi giới thiệu con bà Thục Ninh Bình ông xua đuổi lên Chính phủ, tôi đưa giấy nhận đơn yêu cầu trả lời, ông đẩy cho ông Hoàng - Trưởng phòng thanh tra cùng tham gia tiếp dân ông Hoàng nói: “việc này phức tạp nên đã báo cáo Thủ tướng xin ý kiến chắc Thủ tướng sẽ chỉ đạo làm lại từ đầu”

Ngày 19/9/2007 Bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ có số 5285/VPCP - VII thông báo ý kiến chỉ đạo của ông Trương Vĩnh Trọng - Phó Thủ tướng.

Ngày 08/10/2007 Bộ có số 3523 kèm theo số 5285 của VPCP, số 2396 của Bộ do ông Lĩnh ký. Khi xem số 2396 tôi mới biết Bùi Hồng Lĩnh đã xuyên tạc vu cáo : “bà Thục và con trai là Hoàng Trung Kiên liên tục đến Bộ yêu cầu phải công nhận ông Hoàng Văn Qùi liệt sỹ… đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Tổng Thanh tra ra thông báo chấm dứt việc tiếp và giải quyết Khiếu nại....”

Ngày 19/10/2007 tôi có đơn Tố cáo Bùi Hồng Lĩnh gửi đến Thủ tưởng và các cơ quan can thiệp làm rõ vụ việc theo luật.

Ngày 20/10/2007 tôi đến Bộ LĐ&TBXH - ông Nguyễn Thanh Hòa , Thứ trưởng bảo lên Chính phủ, tôi đưa công văn số 5285 của Chính phủ đề nghị giải thích chính sách pháp luật để gia đình chấp hành, ông Thứ trưởng không giải thích được, lại giao cho bộ phận “một cửa” nhận đơn Tố cáo ông Lĩnh Thứ trưởng ?

Ngày 20/3/2008 tôi gặp bà Huỳnh Thị Nhân - Thứ trưởng, bà bảo tôi đưa giấy tờ liên quan gần nhất, xem song bà Thứ trưởng lại chỉ đạo bộ phận “một cửa” nhận đơn?

Theo thông báo số 620/TD - MTTW ngày 26/10/2007 Mặt trận Tổ quốc Việt nam chuyển đơn tôi đến Thủ tướng Chính phủ để giải quyết theo luật. Ba lần tôi đến Trụ sở tiếp dân (TSTD) Trung ương Đảng + Nhà nước 110 Cầu giấy Hà Nội bị cán bộ TSTD gây khó dễ, ông Hoàng Như Hải tiếp dân Văn phòng Chính phủ ngang nhiên làm liều cụ thể.

Lần đầu; Sáng 17/12/2006 Cán bộ TSTD đưa đẩy nhau. Đến chiều ông Phan Văn Hải - tiếp dân Thanh tra Chính phủ bảo tôi về Bộ LĐTBXH giải quyết. Tôi đề nghị hướng dẫn bằng văn bản ông lại bỏ đi ?

Lần hai :Đinh Thị Thuý Quỳnh lý do tiếp dân Văn phòng Chính phủ đi vắng, tôi điện cho ông Bùi Nguyên Suý lãnh đạo TSTD số máy. 0913.530.508 ông nói thông cảm bữa sau tới?

Lần ba : Ngày 16/6/2008 bà Quỳnh cầm đơn, chứng cứ đi báo cáo lãnh đạo sau đó bà viết giấy cho tôi đến tiếp dân Văn phòng Chính phủ ông Hoàng Như Hải không xem chứng cứ, không nghe trình bầy nói. “việc này đã trả lời rồi còn thắc mắc gì” ? Tôi đưa đơn và số 620 Mặt trận Việt nam thông báo đã chuyển đơn tố cáo đề ngày 19/10/2006 đến Thủ tướng, ông Hải chỉ xem CV số 620 rồi nói: Bọn Mặt trận không hiểu gì về luật, giám chuyển đơn của công dân cho Thủ tướng rồi lấy bút ghi vào góc số 6

20 và bảo; Tôi thay Thủ tướng trả lời yêu cầu anh chấp hành CV số 3523 của Bộ LĐTBXH ?

Tôi nói : Ông cho rằng “bọn Mặt trận” không hiểu luật, chắc ông học cao nên được ngồi chồm chỗm tiếp dân Văn phòng Chính phủ, nhưng thái độ, việc làm của ông thể hiện như kẻ vô học. Số 620 của Mặt trận đại diện cho một cơ quan nhà nước, họ làm không đúng ông cũng phải có văn bản trả lời. Ông thay Thủ tướng, giấy uỷ quyền đâu ông ta lại bỏ đi ?

Tôi tiếp tục có đơn Kiến nghị gửi Thủ tướng và các cơ quan. Ngày 03/7/2008 Mặt trận Tổ quốc Việt nam lại có số 395/ TD - MTTW Thông báo; Căn cứ mục 2 chương VII luật KNTC, luật MTTQ Việt Nam đã chuyển đơn tôi đến Thủ tướng Chính phủ, đã quá thời gian qui định đơn tôi vẫn không được giải quyết theo luật ?

Bùi Hồng Lĩnh đề nghị Thủ tướng chỉ đạo Tổng Thanh tra ra thông báo chấm dứt việc tiếp, giải quyết khiếu nại của bà Thục. Đương kim Thủ tướng ông Nguyễn Tấn Dũng không có ý kiến, ông Trương Vĩnh Trọng – Phó Thủ tướng chỉ đạo : “Bộ LĐTBXH giải thích chính sách pháp luật cho bà Thục và gia đình”. Gia đình tôi đề nghị Bộ giải thích để gia đình thông hiểu chính sách chấp hành, các Thứ trưởng Bộ LĐTBXH không giải thích được lại chỉ đạo bộ phận “một cửa” nhận đơn để “bỏ túi” ? Bà Thục lại có đơn đến UBND phường Nam Thành ông Chủ tịch liên tục ghi lý do vào đơn. Bộ LĐTBXH có quyết định số 652 nên phường không giải quyết, bà Thục đến Bộ Nguyễn Văn Tiến kẻ nói một đàng, làm một nẻo nay nhảy tót ngồi ghế Chánh thanh tra Bộ LĐTBXH ngang nhiên ra thông báo số 218/BLĐTBXH ngày 09/6/2008 “không tiếp Công dân Vũ Thị Thục” ngày 12/9/2008 tôi có đơn Tố cáo Nguyễn Văn Tiến !!! Bùi Hồng Lĩnh kẻ đang bị Tố cáo lại ngồi nghế quan Toà ra số 427/LĐTBXH – TTr ngày 17/10/2008 đưa cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt dưới mồ lên và cho rằng ông Võ Văn Kiệt thông báo : “đã xem xét và có văn bản trả lời việc giải quyết đơn của Bộ LĐTBXH là đúng qui định của pháp luật ” ?

Thưa quí vị !

Ai được xem chứng cứ, việc giải quyết của những người đại diện cho cơ quan công quyền đều thốt lên : “Thế này thì đúng là Nhà dột từ nóc dột xuống !!!”, và nói: “Vậy mà khi mới nhận chức Thủ tướng Chính phủ ông Nguyễn Tấn Dũng hứa trước Quốc hội, trước Nhân dân, sẽ thực hiện việc cải cách hành chính để giảm bớt phiền hà cho dân...”. Thủ tướng nói: “Thích người ngay thẳng, ghét kẻ giả dối ???.”. Vậy sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không gương mẫu thực hiện quyền của mình theo luật đi ??? !!!

Tôi xin gửi một số văn bản kèm theo và hình ảnh bà Vũ Thị Thục mẹ “liệt sỹ” người đã mất một phần xương máu cho đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN có được mở maỳ mở mặt như hôm nay. Tha thiết mong Nước nhà độc lập để hưởng cuộc sống Tự do, ấm no, hạnh phúc, quí vị xem xét can thiệp để đơn tôi sớm được giải quyết theo luật.

Thay mặt gia đình tôi xim trân trọng cảm ơn./.

Công dân Bộ đội xuất ngũ

Hoàng Trung Kiên

Điện thoại liên lạc: 0989.203.278

Cụ Bà Trần Thị Thục 86 tuổi đang cầm trên tay bài báo đăng hoàn cảnh của gia đình mình trên tờ Tiếng nói Việt Nam cơ quan đài phát thanh Tiếng nói VN về cuộc đời khiếu kiện tố cáo trường kỳ của mình với đảng và nhà nước mấy chục năm dòng mà không được các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết !!!


Thứ Tư, 5 tháng 11, 2008

No4: Hai bức ảnh-hai cách nhìn về một sự kiện nước lụt Hà nội



Click the image to open in full size.Click the image to open in full size.

Ngày thứ 5 của trận lụt lịch sử ở Hà Nội, nước vẫn ngập và người dân vẫn khốn đốn.Mức nước có rút xuống vài chục phân, nhưng nạn ngập vẫn còn là nỗi đe dọa của nhiều vùng Hà Nội. Nhiều gia đình, cuộc sống bị đảo lộn nghiêm trọng. Nấu bữa ăn không xong thì còn nhờ hàng xóm, còn kê cao lên để đun phích nước sôi pha mỳ tôm mà ăn, nhưng khoản đầu ra thì không thể đi nhờ mãi được. Vì vậy, việc môi trường bị ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi.

Giá vẫn là mức trên trời, nhiều gia đình chật vật với những toan tính, lo lắng cho từng bữa ăn của đàn con, cho những sinh hoạt thường ngày đã vô cùng vất vả. Nhiều gia đình hai ông bà cụ già, cụ ông bị ốm, còn cụ bà thì đi sơ tán… Các cháu nhỏ vẫn phải nghỉ học, những khu vực dân cư gần như bị đảo lộn những sinh hoạt thường ngày, đường Giải phóng thành chợ, thành bến xe… Những chuyến xe tải chở đất, chở trâu bò nay dùng chở người, chở ô tô và xe máy qua những con sông mà đáy làm bằng bê tông átphan cũng kiếm bộn tiền với giá 80.000 đồng/lượt với vài trăm mét đường bộ. Cả đoạn đường đầy mùi xú uế của bến xe và chợ ngay đầu đường vào Giáp Bát, nhộn nhạo, hôi hám và rác rưởi.

Nhà cửa nhếch nhác, hôi hám bẩn thỉu. Rác rưởi, phế thải trôi đầy ngõ xóm, đường làng, vào tận phòng khách, phòng ngủ và bếp của nhiều gia đình. Chắc chắn việc khắc phục hậu quả của trận lụt này còn phải mất nhiều thời gian.

Đời sống người dân khốn đốn, nhiều gia đình sống dở chết dở với nạn lụt. Người ta mong ngóng, người ta trông chờ những tấm lòng hào hiệp và hảo tâm của cộng đồng như những khi họ đã góp tiền bạc vật chất cho những nơi bị thiên tai. Nhất là họ đã ngóng chờ những động thái từ chính quyền và hàng loạt các cơ quan đoàn thể đang ngày đêm được nuôi nấng bằng những đồng tiền ngân sách quốc gia mà họ là người có nghĩa vụ đóng góp.

Nhưng, sự chờ đợi của họ thật hoài công và uổng phí. Họ đâu biết rằng, báo chí trước đây là công cụ đắc lực để kêu gọi những tấm lòng nhân ái, những bát cơm phiếu mẫu cho những nạn nhân thiên tai và nhân tai, thì nay đã bị cấm làm công tác cứu trợ nếu như không có “giấy phép”? Đã có chỉ thị, chính sách quy định rõ ràng về việc cứu trợ phải tập trung tiền, hàng về Mặt trận Tổ Quốc. Và cũng từ đó, báo chí hết cả nỗ lực kêu gọi và cứu trợ như trước đây để cho Mặt trận Tổ quốc lo cái nhiệm vụ - hay quyền lợi đó.

Việc cứu trợ từ các ân nhân, từ các tổ chức không được rầm rộ và hiệu quả như trước cũng chẳng trách được ai. Người ta còn nhớ những vụ tham nhũng tiền cứu trợ xảy ra cách đây chưa lâu như những bài học nhãn tiền. Vụ cứu trợ lụt bão ở Nghệ An, ba tỷ đồng đã bị các đồng chí xén mất một tỷ, vụ Hà Tĩnh, 26 tỷ đồng cứu trợ bị xà xẻo mà báo chí đã đưa om sòm, sau thấy im hơi lặng tiếng theo đúng lề đường đã vạch mà chưa thấy ai chịu trách nhiệm.

Còn gì dã man hơn lòng người khi cướp luôn cả miếng cơm khi đói của những nạn nhân được người khác chia sẻ? Những kẻ táng tận lương tâm đó đã để lại trong lòng người dân những nỗi chán chường và việc nhường cơm sẻ áo, có khi chỉ còn là chuyện của dĩ vãng về mối quan tâm mội người, một truyền thống đạo đức tốt đẹp.

Bên mép nước, rỗi rãi vì không có việc gì làm, một cụ già đã hóm hỉnh nói: “Có gì lạ khi bị cắt xén, xà xẻo những đồng tiền cứu trợ nạn nhân đâu, đó là những thứ ăn được mà. Ở ta, cái gì mà chẳng cắt, chẳng xén? Có những thứ không ăn được còn bị cắt xén nữa là, câu nói của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt có ăn được đâu mà vẫn cứ bị chúng nó cắt xén như thường đấy thôi” . Nhiều cụ khác cười xòa, một cụ ra chiều suy nghĩ: “Được chứ bác, câu nói đó không ăn được, nhưng cơ hội kiếm ăn từ sự cắt xén đó là không nhỏ đâu” . Đến chịu các cụ, quả là nhàn cư vi… lắm chuyện.

Nạn lụt lội vẫn đang hoành hành và những hậu quả của nó không nhỏ. Những nạn nhân thì cứ vậy mà quằn quại và chấp nhận số phận mình, chẳng biết kêu ai. Thành phố Hà Nội đã đánh giá ngày hôm kia là thiệt hại 3000 tỷ đồng và 18 người chết. Những thiệt hại về người đó là dân, những thiệt hại kinh tế thì người dân đang chịu trực tiếp, không biết nhà nước đã tính vào con số 3.000 tỷ đồng kia chưa?

Những thùng hàng cứu trợ cho… cán bộ chính quyền?

Từ khi nước ào ào đổ xuống dâng đầy đường phố và các ngõ xóm, nơi đâu thì không chứng kiến được vì không thể ra khỏi làng. Nhưng nơi tôi ở, cả mấy chục nhà xung quanh thậm chí khó có thể nấu một bữa cơm ăn, vì nhà cửa ngập hết, chăn chiếu ướt sũng, phải lánh nạn hoặc ngâm mình chịu trận… đến nay đã 5 ngày. Nhưng chưa thấy bất cứ một cán bộ “của dân, do dân, vì dân” nào từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất thăm hỏi xem ai còn sống và ai đã chết.

Sáng nay, ngày 4/11, sau một trận ngủ vùi vì rỗi rãi đến tận 8 giờ. Vừa bước ra ngõ đã thấy hàng xóm đang bàn luận, tranh cãi về chuyện cứu trợ ra chừng bức xúc, một chị hàng xóm nổi nóng. “Từ nay, đừng có nói chuyện cứu trợ lụt bão cái con mẹ gì nữa nhé, cứu trợ nạn nhân lụt lội hay cứu trợ cho cán bộ”? Một cụ già ấm ức “trách gì những vùng đồng bào vùng sâu, vùng xa không bao giờ được chút cứu trợ cũng chẳng có gì lạ. Ngay giữa thủ đô này thôi, bây giờ hàng cứu trợ được cấp cho cán bộ chứ chẳng cần biết nạn nhân là ai” . Nhà cụ cả mấy ngày nay cũng đang khốn khổ vì nạn ngập nhà.

Hỏi ra thì được biết: Sáng nay, khi thấy phường bên cạnh có được nhận mỳ tôm cứu trợ, chị hàng xóm nhà tôi mới gọi Tổ trưởng dân phố để hỏi. Sau khi đi ra Phường, tổ trưởng dân phố mang về hai thùng hàng cứu trợ nghe nói là của Thành Phố. Một thùng cho ông, còn một thùng nữa cho ông tổ phó dân phố. Khi những người ngập nhà đến hỏi, thì ông bảo đây là của cán bộ chính quyền cơ sở và gia đình chính sách mà thôi? Thế là cả ngõ xóm rộ lên những lời ấm ức tuyệt vọng.



Hỡi ôi, hàng cứu trợ bão lụt lại không căn cứ hậu quả bão lụt, chẳng cần biết ai là nạn nhân, lại phân chia theo kiểu “đường sữa từ trên phát xuống”, ngay cả một ông có hai ngôi nhà năm tầng liền nhau và một ngôi nhà hai tầng cho thuê cao lừng lững không hề ngập lụt cũng được chia một thùng hàng cứu trợ. Còn người dân sống ngâm da mấy ngày nay chỉ đứng nhìn mà ấm ức thì họ không bất bình mới là chuyện lạ. Những lời qua, tiếng lại mát mẻ cứ thế được dịp bùng phát.

Chừng như thấy ngại cho chính sách cứu trợ của chính quyền, vì tổ phó dân phố đâu có ngập nhà, đâu có túng đói, nên ông sang bàn với tổ trưởng đem chia đều hai thùng mỳ tôm cho mọi nhà. Thấy câu chuyện vừa buồn cười vừa bực mình, tôi hỏi: “Ai bảo bác là chia đều mỗi nhà một gói mỳ tôm vậy?” ông bảo “tôi quyết định”. Tôi nói “Người dân không phải chỉ trông chờ vào gói mỳ tôm hay ít vật chất nào, nhưng cái họ chờ là sự quan tâm của những người là cán bộ của dân cơ ông ạ. Chưa thấy một cán bộ nào đến hỏi thăm dân đã chết hay còn sống, nên họ bức xúc thôi, ông đừng chia, họ không nhận những gói mỳ tôm kiểu đó, họ cần những tấm lòng hơn”. Ông bảo “họ bận, ông cán bộ mặt trận có đến nhà tôi rồi”. Nhiều người bức xúc “Họ bận gì, cán bộ hàng lớp từ thành phố đến quận, phường… ăn lương của dân mà những khi này không đến hỏi thăm một lời, thì họ bận việc gì? Thử bắt đầu làm cái nhà xem, có khi nào thoát được mấy ông cán bộ của dân đến hỏi thăm ngay không? Thử xem các khoản đóng góp tiền xem, có khi nào ông cán bộ bỏ sót nhà dân nào không?” Quả là đến chịu. Mấy gói mỳ cứu trợ cho cán bộ, không khéo lại nảy sinh những ấm ức khác trong lòng người dân. Đúng thật, không chỉ “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, mà “lời chào còn cao hơn mâm cỗ” là những câu nói người xưa đã đúc kết đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Đến chiều thì câu chuyện cứu trợ lụt bão càng thêm nhiều chuyện hài hước. Một chị ngập nhà đã mấy ngày, khi nhận được 3 gói mỳ tôm đã thắc mắc: “Bên phường cạnh, mỗi nhà được một thùng mỳ tôm, ở đây nhà cháu có 4 người, được 3 gói mỳ tôm ai ăn ai nhịn hả ông?” thì được cán bộ trả lời: “Thêm rau muống vào cho đủ mà chia nhau” .

Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đến thăm hỏi nạn nhân lụt lội

Chiều nay, Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã đến Làng Tám, thuộc phường Giáp Bát để thăm các nạn nhân sau khi Ngài đã đi qua thăm trường Bế Văn Đàn, nơi có một học sinh đã chết đuối ngay giữa lòng Thủ đô.

Nghe tin Đức Tổng về Làng Tám, giáo dân nô nức đón Đức Tổng ngay từ đầu làng. Sau những trận đòn hội chợ của truyền thông lăng mạ và kết tội. Sau những đêm kinh hoàng với những nhóm “quần chúng yêu nước” hò hét kêu gọi giết chết Đức Tổng một cách khát máu. Ngài ít khi ra ngoài, xung quanh nhà Ngài ở đã có hệ thống camera theo dõi cẩn thận (Sau này, nghe nói hình như thấy hình ảnh quá nhiều và quá lộ liễu một việc làm vi phạm pháp luật ngang nhiên, người ta đã thu gọn lại một vài chỗ kín đáo hơn). Những tháng ngày qua, Ngài như “tự quản chế” ngay giữa lòng Thủ đô. Những cuộc lễ đã có chương trình trước như Thêm Sức cho trẻ em ở các giáo xứ, đều đã bị bãi bỏ. Chỉ có những việc chẳng đặng đừng như việc tấn phong Giám mục Ngài không thể không đi thì Ngài mới ra ngoài.

Mọi người đều biết, chẳng phải Ngài sợ hãi gì cho bản thân khi Ngài đã quyết hiến cho Chúa trái tim dũng cảm. Nhưng Ngài không muốn cho những kẻ bất chấp lẽ phải có cơ hội tạo thêm nhiều rắc rối, căng thẳng làm mâu thuẫn tôn giáo ngày càng tăng trong xã hội.

Nhưng những việc tang, việc thăm hỏi các nạn nhân, bao giờ Ngài cũng không từ nan, dù biết có nhiều nguy hiểm cho bản thân. Vài tuần trước, Ngài đã đi viếng và làm lễ an táng một cụ cố ở Hà Nam khi người về với Chúa.

Trái ngược với hình ảnh thường thấy của những quan chức nhà nước đến thăm nạn nhân bão lụt với hàng đoàn ô tô, ghe xuồng đưa đón, người cầm ô, kẻ đưa rước. Thậm chí có những cuộc cứu trợ đã được nói đến là tốn phí cho việc quan chức đi thăm còn gấp mấy số tiền được đưa đi cứu trợ.

Chiều nay, Ngài đã xuống đến Làng Tám, với một bộ quần áo giản dị và đôi dép lê, một cây gậy tre cầm tay và cùng xắn quần móng lợn lội nước bẩn thăm những nạn nhân. Có những chỗ nước sâu ngập hết cả hai ống quần với làn nước dày đặc bèo, rác và muôn vàn thứ bẩn thỉu và hôi hám.

Ngài đã không ngại ngần mưa gió, ướt át và bẩn thỉu đến thăm những người dân này đã mấy ngày nay không bước chân ra khỏi nhà vì nước ngập, vì ốm đau. Ngài đến thăm “chú bé” đã hơn 20 tuổi vẫn nằm nguyên một chỗ với ông bà nội, nay mưa lũ phải di chuyển sang ở nhờ nhà khác. Ngài đến thăm những gia đình cô đơn, giả cả, yếu đau bệnh tật… Tất cả thể hiện tấm lòng yêu thương của Ngài, nêu cao tấm lòng tận tụy vì nhân dân, vì tha nhân.

Cuộc viếng thăm của Ngài chiều nay, là thể hiện một sự hi sinh hết mình với tinh thần “Ta đến để phục vụ mà không phải là để được phục vụ” đúng như khẩu hiệu của Ngài đã nói lên tất cả “Chạnh lòng thương”.

Đến gia đình Cụ Hoàng đã trọng tuổi, cụ ông vẫn nằm trên bệnh viện, cụ bà tuổi đã cao, dù nước đã rút được hơn ba chục cm, vẫn còn ngập sâu quá đầu gối mới vào được nhà. Đến thăm một gia đình ở giữa đường Giáp Bát, khi nước ngập quá sâu giáo dân thấy ái ngại cho Ngài, đã dùng mảng bằng xốp mời Ngài lên, nhưng khi các giáo dân đi theo không thể cùng lên, Ngài đã xuống cùng lội bộ cả quãng đường dài khắp xóm.

Thật cảm động khi người đứng đầu một Tổng Giáo phận đã không quản ngại vất vả, khó khăn và cả nguy hiểm để đến với những con chiên bé mọn của mình. Có những người dân khi được Đức Tổng đến thăm, đã không cầm được nước mắt vì xúc động. Có những bà cụ già cứ cầm tay mãi không muốn rời. Tất cả đều được coi là một hồng phúc, một hồng ân xuống cho gia đình mình khi được Đức Tổng đến thăm.

Không chỉ những giáo dân, khi chứng kiến Đức Tổng lội nước đến thăm các nạn nhân, những người ở tôn giáo bạn và bà con lương dân, đã không khỏi xuýt xoa khi chứng kiến cảnh này. Có cụ già nói lớn với những người xung quanh: “Nhìn ông Tổng Giám mục lội nước đến thăm dân, tôi mới hiểu vì sao khi ông cất lên một tiếng nói, đã có hàng vạn người đứng lên đáp lời với cả tấm lòng mình. Ông ấy chính là hiện thân của sự hi sinh cho dân chúng và cộng đồng” .

Chiều nay, khi Đức Tổng đã lên xe ra về, những tiếng nói, những nụ cười cảm động của những nạn nhân vẫn còn phảng phất, họ thấy mình thật sự hạnh phúc khi có một người cha chung đã không quản gian nguy, vất vả đến với những con chiên bé mọn như mình những khi nguy nan.

Thiết nghĩ rằng không cần nói nhiều, chính những hình ảnh đó đã khẳng định Ngài với trái tim yêu thương, nhân hậu và tinh thần xả thân phục vụ. Chính những hình ảnh, nụ cười, sự hân hoan của giáo dân, sự kính phục của cộng đồng nhân dân mà tôi được chứng kiến chiều nay đã khẳng định uy tín của Ngài được nâng cao hơn bao giờ hết.

Sự tín nhiệm người dân, cộng đồng đặt vào nơi Ngài không phải không có cơ sở. Sự hi sinh, hiến thân và tình yêu thương của Ngài, chính là cơ cở bảo đảm, khẳng định niềm tin yêu của cộng đồng dân chúng giành cho Ngài đã đặt không nhầm chỗ.

Ở Ngài không có những lời hoa mỹ, không có những hành động phô diễn hình thức, cũng không có sự giả tạo và nhất là sự vô cảm thường thấy hiện nay trước nỗi đau nhân quần mà chúng ta đang chứng kiến hàng ngày.